Skip Ribbon Commands
Skip to main content

 

 
WEBSITE HỮU ÍCH
 
 
  • Lễ khởi công dự án Samsung HCMC CE Complex trong Khu Công nghệ cao
  • Một số hình ảnh cuộc thi Nét đẹp SHTP 2014
  • Một số kết quả hoạt động của Khu Công nghệ cao sau 12 năm thành lập - 24/10/2014
  • Làm chủ công nghệ để phát triển công nghệ cao (P1)
  • Làm chủ công nghệ để phát triển công nghệ cao (P.2)
  • Làm chủ công nghệ để phát triển công nghệ cao (P3)
  • Khóa container công nghệ RFID - Kết quả nghiên cứu giữa SHTPLabs và ICDREC
  • Chương trình Đối thoại chính sách: "Kinh nghiệm của Hàn Quốc về tài chính cho phát triển khoa học công nghệ và hàm ý chính sách đối với Việt Nam" - P1
  • Chương trình Đối thoại chính sách: "Kinh nghiệm của Hàn Quốc về tài chính cho phát triển khoa học công nghệ và hàm ý chính sách đối với Việt Nam" - P2
  • Chương trình Đối thoại chính sách: "Kinh nghiệm của Hàn Quốc về tài chính cho phát triển khoa học công nghệ và hàm ý chính sách đối với Việt Nam" - P3
Thông tin BQLThứ 4, Ngày 10/03/2010, 14:05

Phát triển ngành công nghiệp phụ trợ: Thực trạng, định hướng và giải pháp

Cho đến nay, công nghiệp phụ trợ (CNPT) vẫn còn là một khái niệm tương đối mới mẻ ở Việt Nam. Mặc dù sự non yếu của ngành này đã trở thành những lực cản rất rõ ràng đối với việc phát triển các ngành công nghiệp nói chung cũng như các ngành công nghiệp mũi nhọn nói riêng, song CNPT vẫn chưa nhận được sự quan tâm tương xứng của các cấp, các ngành.

Tính đến trước ngày 31/7/2007, thời điểm Quy hoạch phát triển công nghiệp hỗ trợ đến năm 2010, tầm nhìn đến năm 2020 được Bộ Công Thương (trước đây là Bộ Công nghiệp) phê duyệt, hầu như không có một định hướng chính sách, ưu tiên khuyến khích cụ thể nào cho việc phát triển ngành công nghiệp tiền đề này. Trong bối cảnh mới của quá trình toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế, việc mở cửa nền kinh tế với sự hiện diện của các công ty nước ngoài đã gia tăng áp lực cạnh tranh, buộc các nhà sản xuất, dù sản xuất để xuất khẩu hay để phục vụ nhu cầu trong nước phải coi thị trường nội địa là một bộ phận thống nhất của thị trường thế giới. Bởi vậy, việc xây dựng và tăng cường liên kết với các chi nhánh nước ngoài nhằm phát triển ngành CNPT, nâng cao năng lực sản xuất kinh doanh, trình độ công nghệ và kỹ năng quản lý của các doanh nghiệp trong nước, giảm nhập khẩu của các chi nhánh nước ngoài là một giải pháp quan trọng nhằm đạt được những mục tiêu của quá trình CNH - HĐH ở nước ta trong bối cảnh hiện nay.

I- Vai trò của ngành CNPT

1. Khái niệm
Theo định nghĩa của Cục phát triển CNPT (BSID) Thái Lan: CNPT là các ngành công nghiệp cung cấp các linh phụ kiện máy móc và các dịch vụ kiểm tra, đóng gói kiểm tra cho các ngành công nghiệp cơ bản. Ở Việt Nam, cho đến nay vẫn thiếu một định nghĩa pháp lý về CNPT. Khái niệm CNPT được hiểu khác nhau giữa các cơ quan chính phủ. Tuy vậy, nhìn chung, CNPT là khái niệm chỉ toàn bộ những sản phẩm công nghiệp có vai trò hỗ trợ cho việc sản xuất các thành phẩm chính. Cụ thể là những linh kiện, phụ liệu, phụ tùng, sản phẩm bao bì, nguyên liệu để sơn, nhuộm, v.v… và cũng có thể bao gồm cả những sản phẩm trung gian, những nguyên liệu sơ chế. Sản phẩm CNPT thường được sản xuất với quy mô nhỏ, thực hiện bởi các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV).
2. Vai trò
Thứ nhất, CNPT đóng vai trò rất quan trọng trong việc tăng sức cạnh tranh của sản phẩm công nghiệp chính và đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá theo hướng vừa mở rộng vừa thâm sâu. CNPT không phát triển sẽ làm cho các công ty lắp ráp và những công ty sản xuất thành phẩm cuối cùng khác sẽ phải phụ thuộc nhiều vào nhập khẩu. Dù những sản phẩm này có thể được cung cấp với giá rẻ ở nước ngoài nhưng vì chủng loại quá nhiều, phí tổn chuyên chở, bảo hiểm sẽ làm tăng phí tổn đầu vào. Đó là chưa nói đến sự rủi ro về tiến độ, thời gian nhận hàng nhập khẩu. Vì lý do này, CNPT không phát triển thì các ngành công nghiệp chính sẽ thiếu sức cạnh tranh và phạm vi cũng giới hạn trong một số ít các ngành.
Thứ hai, CNPT có vai trò rất quan trọng trong việc thu hút dòng vốn FDI vào lĩnh vực công nghiệp, đồng thời, kích thích phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nước. Muốn thu hút đầu tư trực tiếp của nước ngoài FDI, CNPT phải đi trước một bước, tạo nên cơ sở hạ tầng để cung cấp sản phẩm đầu vào cần thiết cho các ngành công nghiệp lắp ráp bởi lẽ bản thân các tập đoàn và các công ty lớn về lắp ráp hiện cũng chỉ giữ lại trong quy trình của mình các khâu nghiên cứu, phát triển sản phẩm và lắp ráp thay vì tất cả gói gọn trong một công ty hay nhà máy. Điều này đặc biệt đúng trong các ngành sản xuất các loại máy móc, là những ngành đang phát triển mạnh tại Đông Á và là những lĩnh vực Việt Nam có lợi thế so sánh động. Các mặt hàng này thường có hàng trăm hoặc hàng ngàn bộ phận, linh kiện ở nhiều tầng lớp, từ những loại thông thường đơn giản đến những loại có công nghệ rất cao. Đối với các công ty nước ngoài đầu tư vào ngành sản xuất này, tỷ lệ nội địa hoá càng cao càng có lợi. Trên thực tế, phí tổn về linh kiện, bộ
phận và các sản phẩm trung gian trong những sản phẩm thuộc các ngành sản xuất máy móc chiếm tới hơn 80% giá thành, lao động chỉ chiếm từ 5-10%, do đó khả năng nội địa hoá có tính chất quyết định đến thành quả kinh doanh của doanh nghiệp. Nói cách khác, tỷ lệ của chi phí về CNPT cao hơn nhiều so với chi phí lao động nên một nước dù có ưu thế về lao động nhưng CNPT không phát triển sẽ làm cho môi trường đầu tư kém hấp dẫn. Chừng nào các ngành phụ trợ sẵn có chưa được cải thiện đồng loạt, nhiều DNNVV của nước ngoài chưa đến đầu tư ồ ạt thì FDI của các công ty lớn không thể tăng hơn.
Thứ ba, CNPT còn góp phần thúc đẩy việc chuyển giao công nghệ, áp dụng các kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất. Bởi lẽ, dưới áp lực cạnh tranh, các công ty CNPT phải tỏ ra có tiềm năng cung cấp linh kiện, phụ liệu với chất lượng và giá thành cạnh tranh được với hàng nhập. Tiềm năng đó sẽ thành hiện thực nhờ chuyển giao công nghệ từ doanh nghiệp FDI.
Thứ tư, CNPT còn góp phần tạo công ăn việc làm, thu hút lao động dư thừa trên các địa bàn sản xuất của doanh nghiệp và khu vực lân cận.

II- Thực trạng phát triển ngành CNPT ở nước ta
1. Thực trạng
Cho đến nay, phải khẳng định rằng, ngành CNPT của Việt Nam còn cực kỳ sơ khai, thể hiện ở các mặt sau:
Thứ nhất, số lượng các doanh nghiệp hoạt động trong khu vực này còn rất hạn chế. Các doanh nghiệp này chủ yếu là các doanh nghiệp nhỏ và vừa, thuộc sở hữu nhà nước, vẫn còn thói quen bao cấp nên rất thụ động trong việc tìm kiếm khách hàng và "ngại" đổi mới.
Thứ hai, chất lượng của các sản phẩm của các doanh nghiệp sản xuất trong ngành CNPT rất thấp và kém ổn định. Một mặt, các sản phẩm không đáp ứng yêu cầu về chất lượng của nhà cung cấp. Sản phẩm CNPT chủ yếu do doanh nghiệp nhà nước (DNNN) hoặc do các hộ kinh doanh cá thể sản xuất, chất lượng kém và giá thành cao (vì công nghệ lạc hậu, khó khăn về vốn, trình độ quản lý kém,…) nên chỉ tiêu thụ được trong nội bộ các DNNN. Mặt khác, ngay cả trong trường hợp đáp ứng, chất lượng của các lô
hàng đều bị giảm dần sau các lần cung ứng. Chính điều đó khiến các công ty e ngại đối với các nhà cung cấp của Việt Nam.
Thứ ba, tỷ lệ nội địa hóa trong các ngành công nghiệp của Việt Nam là rất thấp. Hiện nay ở Việt Nam, một số ngành như dệt may, da giày, điện tử... đều phải nhập nguyên liệu từ nước ngoài. Do vậy, họ luôn phải phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu, không thể chủ động được hoạt động sản xuất kinh doanh, giá trị gia tăng của các doanh nghiệp Việt Nam chỉ đạt vỏn vẹn 10% - một con số quá thấp so với các nước có ngành CNPT phát triển khác.
Theo Báo cáo tháng 6/2006 của VDF, tỷ lệ nội địa hoá của các nhà sản xuất Nhật Bản tại Việt Nam mới chỉ đạt 22,6% vào năm 2003, trong khi ở Malaixia và Thái Lan tỷ lệ này là trên 45%. Còn theo nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương (CIEM), 32/80 doanh nghiệp FDI khi được hỏi đều cho rằng việc cung ứng nguyên vật liệu và các hoạt động kinh tế phụ trợ của Việt Nam rất kém. Các doanh nghiệp FDI rất muốn phối hợp với các nhà cung cấp trong nước để giảm chi phí sản xuất, nâng cao sức
cạnh tranh của sản phẩm, nhưng rất khó có thể tìm được nhà cung cấp thích
hợp.

 

Tỷ lệ nội địa hóa trong một số ngành công nghiệp chế tác Việt Nam
 
Ngành công nghiệp Quy mô sản xuất (nghìn chiếc) Tỷ lệ nội địa hoá (%)
Xe máy (2003) 1.290 (Thái Lan: 1.740) 75
Tivi (2002) 1.600 (Thái Lan: 6.500) 20-40
Ôtô (2005) 35 (Thái Lan: 1.000) 5-10

Nguồn: Diễn đàn Phát triển Việt Nam (VDF)
 

Thực trạng phát triển CNPT có thể được đánh giá thông qua khả năng cung cấp linh phụ kiện và tỷ lệ nội địa hóa trong một số ngành công nghiệp chế tác của Việt Nam như sau:
- Ngành ô tô
Theo lộ trình, các nhà sản xuất ôtô trong nước cần phải tăng dần tỷ lệ nội địa hóa nhằm từng bước phát triển công nghiệp ôtô Việt Nam. Tuy nhiên, cho đến nay, phần lớn các nhà sản xuất trong nước chưa chú trọng đến việc này mà thường chỉ nhập linh kiện rồi tiến hành lắp ráp, khiến chi phí sản xuất tăng cao. Sự yếu kém của CNPT trong ngành sản xuất ô tô đang là trở lực lớn để có thể phát triển ngành công nghiệp non trẻ này. Hiện Việt Nam có tới 50 doanh nghiệp lắp ráp ôtô, nhưng chỉ có trên 60 doanh nghiệp cung cấp linh kiện, quá thấp so với con số 385 doanh nghiệp ở Malaixia và 2.500 doanh nghiệp ở Thái Lan.
Theo tính toán, một doanh nghiệp ôtô phải cần tối thiểu 20 nhà cung cấp các loại linh kiện khác nhau. Nhưng trên thực tế, thời gian qua, các doanh nghiệp lắp ráp ôtô chỉ có 2-3 nhà cung cấp linh kiện trong nước. Do vậy, nhiều doanh nghiệp phải phụ thuộc vào nguồn linh kiện nhập khẩu. Ngay như Toyota, năm 2005 nhập khẩu linh kiện trị giá 460 triệu USD trong khi giá trị linh kiện sản xuất trong nước chỉ đạt 2,3 triệu USD.
- Ngành xe máy
Việt Nam hiện có trên 230 doanh nghiệp sản xuất linh kiện, phụ tùng cung cấp cho các doanh nghiệp lắp ráp xe máy, trong đó có hơn 80 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Tỷ lệ nội địa hóa đối với một số loại xe máy sản xuất tại Việt Nam đạt mức khá cao (từ 40-70%) do trong những năm gần đây nhu cầu xe máy tăng đột biến tạo nên thị trường rộng lớn cho CNPT.
Tuy nhiên, các linh phụ kiện sản xuất trong nước chủ yếu do các liên doanh sản xuất xe máy tự sản xuất hoặc mua từ các công ty có vốn đầu tư nước ngoài khác. Số doanh nghiệp thuần túy trong nước có đủ năng lực cung cấp linh phụ kiện cho lắp ráp xe máy rất ít. Đơn cử, trong hàng trăm doanh nghiệp nội địa, hãng Honda đến năm 2003 chỉ chọn ra được 13 doanh nghiệp có khả năng cung cấp đủ chất lượng.
- Ngành dệt may
CNPT cho ngành dệt may còn nhiều bất cập và yếu kém. Năng lực các nhà máy cơ khí chuyên ngành dệt may hiện tại quá nhỏ bé, chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển của các doanh nghiệp trong ngành. Các doanh nghiệp dệt may vẫn phải nhập 70-80% nguyên phụ liệu từ nước ngoài.
- Ngành điện tử, điện máy
Tính đến 2005, mới chỉ có 1/4 số doanh nghiệp trong ngành sản xuất phụ tùng linh kiện, nhưng phần lớn lại là các doanh nghiệp FDI và sản phẩm chủ yếu lại để xuất khẩu. Thêm vào đó, tỷ lệ nội địa hoá sản phẩm trong ngành rất thấp, mới chỉ đạt được khoảng 20%, chủ yếu là bao bì, linh kiện nhựa. Trong khi đó, chất lượng sản phẩm của ngành này còn yếu và không ổn định. Công ty Daihatsu đã từng sang Việt Nam tìm kiếm nhà cung cấp ốc vít, nhưng khảo sát tới 64 doanh nghiệp mà không lựa chọn được nhà cung cấp nào đạt tiêu chuẩn quốc tế. Canon cũng phải mất một thời gian dài mới tìm được nhà cung cấp tại Việt Nam, song 90% trong số đó lại là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
Sau 30 năm phát triển, ngành điện tử Việt Nam vẫn trong tình trạng lắp ráp cho các thương hiệu nước ngoài. Các doanh nghiệp điện tử trong nước vẫn gần như chỉ khai thác sản phẩm cũ, lợi nhuận rất thấp và giá trị gia tăng chỉ ước tăng 5-10%/năm. Theo kết quả khảo sát của Hiệp hội Doanh nghiệp điện tử Việt Nam, các doanh nghiệp FDI có "tên tuổi" đều phải nhập khẩu trên 90% linh kiện của nước ngoài, thậm chí có doanh nghiệp nhập khẩu cả 100% như Công ty Fujitsu Việt Nam. Điều này vừa gây thiệt thòi cho ngành công nghiệp Việt Nam, khiến chúng ta khó thoát khỏi tình trạng gia công, lắp ráp, vừa giảm sức cạnh tranh của các doanh nghiệp sản xuất, lắp ráp hàng điện tử trong nước. Việc thiếu vắng các nhà cung cấp linh phụ kiện cũng khiến nhiều nhà đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực này có xu hướng ngại đầu tư vào Việt Nam và đây là điểm yếu căn bản trong thu hút FDI vào lĩnh vực điện - điện tử.
Nói tóm lại, có thể thấy rằng, quá trình phát triển CNPT ở Việt Nam chưa diễn ra một cách có hiệu quả. Doanh nghiệp trong nước đã có nhưng chưa đáp ứng yêu cầu của thị trường. Do vậy, chưa có sự liên kết chặt chẽ giữa doanh nghiệp FDI và các công ty trong nước. Mặc dù, các doanh nghiệp ngoài nhà nước ra đời khá nhiều sau Luật Doanh nghiệp 2000, trong đó có lẽ có khá nhiều doanh nghiệp thuộc các ngành CNPT, nhưng có nhiều báo cáo cho thấy, các doanh nghiệp này đang gặp khó khăn trong việc tiếp cận vốn và công nghệ.
Chính vì thực trạng yếu kém của CNPT mà đến nay, Việt Nam vẫn chưa hấp dẫn được các công ty đa quốc gia đầu tư trực tiếp sản xuất các loại hàng điện tử gia dụng, các sản phẩm của công nghệ thông tin phần cứng như máy tính cá nhân, điện thoại di động, các loại xe hơi, xe máy, v.v… nói chung là các loại máy móc, các ngành cơ khí.
Bên cạnh đó, việc thiếu ngành CNPT còn dẫn đến tình trạng nhập siêu. Như ở Việt Nam, theo Bộ Công thương, trong 8 tháng đầu năm 2007, nhập siêu cả nước đang ở mức 6,4 tỉ USD. Tỉ lệ nhập siêu tính theo kim ngạch xuất khẩu bằng 20,5%, cao gần bằng tỉ lệ này cùng kỳ năm 2003 (25,3%) và tăng gần gấp đôi năm 2006 (10,41%). Theo các chuyên gia kinh tế, tình trạng này là do Việt Nam thiếu ngành CNPT, dẫn đến trong cơ cấu nhập khẩu, nguyên vật liệu sản xuất chiếm tỉ trọng lớn, đặc biệt là các ngành dệt may, da giày, điện tử, gỗ... phải nhập nguyên phụ liệu từ 70%-90%.
2. Nguyên nhân
Sự yếu kém của bản thân các DN
Nguyên nhân của những yếu kém kể trên trước hết xuất phát từ sự kém năng động và nhạy bén của các nhà cung cấp Việt Nam trong việc tiếp cận khách hàng, chưa tự tin và chưa có khái niệm “xây dựng quan hệ” trong kinh doanh. Nhiều trường hợp khách hàng lại là người tìm đến doanh nghiệp để đề nghị cung cấp sản phẩm. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp còn thiếu nguồn nhân lực kỹ thuật cao cho CNPT.
Tình trạng thiếu vốn và công nghệ của các Doanh nghiệp
Các doanh nghiệp trong lĩnh vực CNPT gặp khó khăn về vốn và kỹ thuật cũng như đầu ra trong điều kiện quy mô thị trường quá nhỏ. Thực tế là, luôn tồn tại một khoảng cách quá lớn giữa yêu cầu về chất lượng sản phẩm, giá bán cũng như thời hạn giao hàng của các doanh nghiệp nước ngoài so với khả năng đáp ứng của các doanh nghiệp Việt Nam. Không phải các doanh nghiệp Việt Nam không hiểu được thực trạng trên mà nguyên nhân sâu xa bắt nguồn từ đặc điểm của ngành CNPT, yêu cầu vốn đầu tư lớn, sản lượng phải nhiều để có thể giảm giá thành và đảm bảo chất lượng. Đây có lẽ là khó khăn lớn nhất của nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ hoạt động trong ngành CNPT. Khó khăn này càng tăng lên khi không có những hỗ trợ cần thiết về kỹ thuật, công nghệ cho các công ty linh kiện phụ tùng Việt Nam từ phía các cơ quan chức năng. Bản thân hệ thống các trung tâm kiểm soát và kiểm định chất lượng linh kiện phụ tùng cũng gần như không có ở nhiều địa phương hoặc nếu có thì cũng hoạt động cực kỳ kém hiệu quả.
Các khó khăn về quy mô cầu
Thị trường Việt Nam cho các nhà lắp ráp đặc biệt là các nhà sản xuất ô tô còn khá nhỏ. Hơn nữa, mức độ tăng trưởng của thị trường nội địa thấp. Với quy mô thị trường quá nhỏ, nhiều doanh nghiệp lớn trong nước đã tỏ ra e ngại khi được đề nghị trở thành vệ tinh của các tập đoàn lớn. Nguyên do là họ phải bỏ vốn lớn ra đầu tư nâng cấp thiết bị dây chuyền cho phù hợp với yêu cầu chất lượng, trong khi chưa thấy hiệu quả trước mắt. Thêm vào đó, với quy mô thị trường trong nước nhỏ bé, các nhà đầu tư nước ngoài cũng ít quan tâm đầu tư vào CNPT.
Thiếu thông tin
Một nguyên nhân nữa bắt nguồn từ tình trạng thiếu các kênh thông tin giữa các doanh nghiệp FDI/nhà lắp ráp và các công ty nội địa có khả năng và các tập đoàn lớn bên ngoài đặc biệt là các tập đoàn của Nhật Bản. Bên cạnh đó là việc thiếu cơ sở dữ liệu phù hợp và đầy đủ về các công ty nội địa, các công ty FDI, các nhà lắp ráp và thiếu thông tin về các liên kết khác nhau giữa các nhà lắp ráp và các công ty cung cấp linh kiện trong nước. Chính vì vậy các nhà sản xuất phải rất khó khăn trong việc tìm kiếm đơn vị cung cấp linh kiện và dịch vụ hỗ trợ cho mình cũng như doanh nghiệp phải vất vả trong việc tìm kiếm đầu ra cho sản phẩm.

III- Định hướng và giải pháp phát triển ngành CNPT trong thời gian tới
1. Định hướng:

Có thể nói, ưu tiên đẩy mạnh phát triển các ngành CNPT là mũi đột phá chiến lược để trong thời gian ngắn khắc phục các mặt yếu cơ bản của công nghiệp Việt Nam, phát triển nhanh và bền vững các ngành công nghiệp chủ lực của Việt Nam như Dệt - may, Da - giày, Điện tử - Tin học, Sản xuất và lắp ráp ô tô… trong quá trình CNH - HĐH đất nước từ nay đến năm 2020.
Về mặt cơ chế chính sách, ngày 31/7/2007, Bộ Công Thương đã có Quyết định phê duyệt Quy hoạch phát triển công nghiệp hỗ trợ đến năm 2010, tầm nhìn đến năm 2020 dựa theo xu thế hội nhập phải gắn với phân công hợp tác quốc tế và phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ. Phát triển CNPT trên cơ sở chọn lọc, dựa trên tiềm năng lợi thế so sánh của Việt Nam với công nghệ tiên tiến có tính cạnh tranh quốc tế cao gằn liền với mục tiêu nâng cao giá trị gia tăng trong nước đối với sản phẩm công nghiệp xuất khẩu và phấn đấu trở thành một bộ phận trong dây chuyền sản xuất quốc tế. Mục tiêu phần đấu đến năm 2010 đáp ứng 30% nhu cầu nội địa đối với ngành dệt may, nâng tỉ
lệ sử dụng nguyên liệu phụ trong nước đạt 40% đối với ngành da giày, tỷ trọng cho phí nguyên vật liệu trong nước trong giá thành sản phẩm ước đạt 22-25% đối với ngành điện tử, tin học…
Về mặt lợi thế so sánh, về cơ bản, Việt Nam có điều kiện thuận lợi để phát triển mạnh mẽ ngành CNPT như nguồn nguyên - nhiên liệu, về trình độ nhân công cho những sản phẩm tinh xảo và đặc biệt là đang có hàng trăm các doanh nghiệp hoạt động trong ngành cơ khí - chế tạo máy, đó là chưa kể đến lực lượng hùng hậu các xưởng, cơ sở cơ - kim khí, làng nghề trên toàn quốc.
Hơn nữa, việc nhà nước dồn hết nỗ lực tập trung phát triển ngành này tự nó gây được niềm tin của các doanh nghiệp nước ngoài vào thị trường đầu tư ở Việt Nam. Sau một thời gian đầu tư ồ ạt ở Trung Quốc, hiện nay nhiều công ty đa quốc gia muốn phân tán sang sang các nước khác và đang trong giai đoạn chọn thị trường mới. Các nhà sản xuất Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan... đang có xu hướng chuyển dần công nghệ và nhà máy vào Việt Nam. Do đó Việt Nam cần phát tín hiệu càng sớm càng tốt để chớp thời cơ.
2. Giải pháp chính sách
Để thực hiện được mục tiêu trên, cần phải đưa chiến lược phát triển CNPT vào các chiến lược và chương trình hành động 5 năm của quốc gia. Các cấp các ngành phải có quan điểm/ định nghĩa rõ ràng và hệ thống chính sách tổng thể cho hỗ trợ phát triển CNPT. Các giải pháp chính sách cần tập trung trả lời ba câu hỏi:
• Ngành gì/sản phẩm nào chính phủ nên tập trung phát triển và hỗ trợ?
• Bằng cách nào/hình thức nào chính phủ hỗ trợ cho sự phát triển của CNPT?
• Sự hỗ trợ của chính phủ nên tập trung vào giai đoạn phát triển nào của sự phát triển CNPT?
Các giải pháp cụ thể như sau:
2.1. Các giải pháp tạo dựng môi trường đầu tư, khuyến khích phát triển sản xuất kinh doanh
- Xây dựng các chương trình phát triển từng nhóm sản phẩm phụ trợ để thu hút sự tham gia của mọi thành phần kinh tế trong và ngoài nước, đặc biệt là các DNNVV; Tập trung phát triển các ngành, các sản phẩm công nghiệp ưu tiên, mũi nhọn tạo nền tảng để phát triển DNNVV làm vệ tinh phát triển CNPT;
- Khuyến khích hình thành các khu, cụm công nghiệp sản xuất linh kiện, phụ tùng, nguyên vật liệu phụ trợ cho các ngành công nghiệp; Xây dựng các KCN&KCX một cách tập trung, có mục tiêu, trong đó có nhiều doanh nghiệp tư nhân có thể trở thành các nhà cung cấp cho các doanh nghiệp FDI có thể coi là một hướng đi tích cực và thiết thực nhằm phát triển ngành CNPT ở nước ta trong những năm tới. Chính sách thúc đẩy CNPT không đơn thuần là “marketing quốc gia” mà phải có định hướng hỗ trợ doanh
nghiệp tham gia vào hệ thống cung cấp cho một số những nhà đầu tư mục tiêu. Đây còn là giải pháp nhằm tạo môi trường hấp dẫn để có thể thu hút được FDI nhiều hơn trong tương lai.
- Tiếp tục đổi mới hoạt động của các DNNN, đẩy mạnh tiến trình cổ phần hoá để nâng cao tính tự chủ trong sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp này và thu hút vốn đầu tư từ các thành phần kinh tế khác; Bên cạnh đó, tiếp tục quá trình cải cách hành chính, nâng cao tính minh bạch của môi trường sản xuất kinh doanh;
- Có chính sách khuyến khích đầu tư, khuyến khích chuyển giao công nghệ, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, hỗ trợ tìm kiếm, điều tiết thị trường, tạo điều kiện về vay vốn, thuê mặt bằng, nhà xưởng, ưu đãi về thuế đối với các công ty, tập đoàn nước ngoài, cũng như các doanh nghiệp nội địa hoạt động trong lĩnh vực CNPT.
Giảm hoặc bãi bỏ các loại thuế đánh vào linh kiện nhập khẩu để giảm giá thành sản phẩm láp ráp, để các sản phẩm này xuất khẩu được. Mở rộng thị trường ra các nước khác để tăng quy mô sản xuất thành phẩm cuối cùng mới kích thích các công ty nhỏ và vừa nước ngoài đến đầu tư sản xuất sản phẩm CNPT.
Nhà nước cũng nên có những chính sách để phát triển CNPT với những ưu đãi về thuế, mặt bằng cho các doanh nghiệp để khuyến khích các doanh nghiệp tư nhân, DNNVV đầu tư bởi đây là nòng cốt của quá trình phát triển CNPT. Lập chế độ thưởng đặc biệt cho những công ty có thành tích cao về xuất khẩu các mặt hàng thuộc các ngành CNPT.
2.2. Các giải pháp về khoa học - công nghệ
- Xây dựng hệ thống tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm theo chuẩn quốc tế, tiêu chuẩn ngành và tiêu chuẩn cơ sở làm căn cứ cho việc định hướng phát triển. Hỗ trợ phát triển và nâng cấp các tổ chức kiểm định, đánh giá chất lượng sản phẩm phụ trợ thuộc nhiều thành phần kinh tế đạt trình độ quốc tế;
- Đầu tư từ nguồn vốn ODA cho các khoa chuyên ngành của trường đại học và cao đẳng để hoàn thiện công nghệ cơ bản... gắn kết các cơ sở đào tạo với các hoạt động của DN; Đồng thời khuyến khích các Viện nghiên cứu chuyên ngành triển khai nghiên cứu, thực nghiệm các đề tài, dự án… phục vụ phát triển CNPT;
- Tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp FDI có các dự án chuyển giao công nghệ và khuyến khích chuyển giao công nghệ tiên tiến vào sản xuất tại Việt Nam, hỗ trợ chi phí mua bản quyền cho các DNNVV phát triển CNPT. Xây dựng và thực hiện các chương trình dự án hỗ trợ công nghệ cho các doanh nghiệp thông qua chuyên gia công nghệ hoặc các công ty FDI. Một số nước phát triển, đặc biệt là Nhật, có chương trình xúc tiến chuyển giao công nghệ cho các DNNVV tại các nước đang phát triển. Việt Nam nên
đặc biệt tiếp nhận nhanh sự hỗ trợ này để nhanh chóng tăng khả năng cung cấp các mặt hàng CNPT hiện có, nhất là các mặt hàng đang sản xuất tại các DNNN.
- Cho rà soát lại các cơ sở sản xuất các ngành phụ trợ tại các công ty nhà nước, ưu tiên cấp vốn và tạo các điều kiện khác để đổi mới thiết bị, thay đổi công nghệ tại những cơ sở đã có quy mô tương đối lớn. Lập chế độ tư vấn kỹ thuật và quản lý để mời các chuyên gia nước ngoài vào giúp thay đổi công nghệ và cơ chế quản lý tại từng DNNN vừa nói.
2.3. Các giải pháp về hạ tầng cơ sở để phát triển CNPT
- Đẩy mạnh xây dựng, hoàn thiện các cơ sở giao thông, vận tải như các bến cảng, sân bay, đường sắt, đường bộ, giao thông đô thị. Hình thành các kho tàng, điểm tập trung hàng hoá ở các vùng kinh tế trọng điểm để gia tăng điều kiện phát triển công nghiệp;
- Tập trung xây dựng một số khu, cụm CNPT có trang thiết bị, công nghệ tiên tiến gắn với các vùng có các ngành công nghiệp chính phát triển. Dồn hết mọi khả năng để kêu gọi FDI đầu tư vào việc sản xuất trong các ngành CNPT. Cụ thể là chỉ định một số khu công nghiệp để ưu tiên giải quyết ngay và triệt để các mặt về hạ tầng, về thủ tục hành chính, về cung cấp nguồn nhân lực cần thiết, v.v… và đặt ra các đội chuyên trách thường xuyên theo dõi hoạt động đầu tư của doanh nghiệp nước ngoài để phát hiện ngay các
vướng mắc và giải quyết ngay.
2.4. Các giải pháp về đào tạo nguồn nhân lực
- Tăng cường đào tạo cán bộ kỹ thuật các ngành thiết kế, chế tạo máy, luyện kim, điều khiển tự động, điện tử tin học để làm chủ các công nghệ được chuyển giao, nghiên cứu thiết kế tạo ra công nghệ nguồn và kiểu dáng sản phẩm riêng của Việt Nam;
- Thu hút sự hỗ trợ của chính phủ các nước phát triển như Nhật Bản, EU... để đào tạo nguồn nhân lực cho CNPT. Hiện nay, Nhật Bản và một số nước khác đang có chế độ gửi những người đã đến tuổi nghỉ hưu nhưng còn sức khoẻ và ý chí muốn đem kinh nghiệm của mình đến giúp các nước đang phát triển. Việt Nam có thể tận dụng nguồn lực quốc tế này để nhanh chóng tăng sức cạnh tranh của các ngành phụ trợ công nghiệp. Bên cạnh đó, đặc biệt khuyến khích các doanh nghiệp FDI tham gia vào công tác đào tạo nguồn nhân lực;
- Tạo điều kiện đầu tư trang thiết bị cho các cơ sở nghiên cứu, chủ động đào
tạo đội ngũ cán bộ chuyên ngành, cũng như hợp tác nghiên cứu với các đối
tác nước ngoài trong một số chương trình đào tạo nguồn nhân lực để phát
triển CNPT.
2.5. Các giải pháp về liên kết Doanh nghiệp
- Kết nối các doanh nghiệp FDI với các doanh nghiệp nội địa trong việc phát triển sản xuất hỗ trợ thông qua các chương trình giới thiệu nhu cầu phát triển và sử dụng sản phẩm phụ trợ và hợp đồng kinh tế giữa các doanh nghiệp này; Xây dựng các chương trình hợp tác dài hạn với các đối tác chiến lược - các công ty, tập đoàn đa quốc gia về phát triển công nghiệp nói chung và CNPT nói riêng ở Việt Nam trong giai đoạn 2006 - 2010, tầm nhìn 2020;
- Xây dựng các trang web chuyên ngành CNPT, xây dựng cơ sở dữ liệu về các doanh nghiệp sản xuất sản phẩm phụ trợ, kênh thông tin cho các công ty linh kiện phụ tùng và các nhà sản xuất FDI, SOE… để làm cơ sở cho việc giới thiệu, tìm kiếm các mối liên kết ngang; Tổ chức và hỗ trợ thành lập các trung tâm tiếp thị tìm kiếm thị trường tiêu thụ và đối tượng cung cấp sản phẩm phụ trợ trong và ngoài nước, làm cầu nối giữa các doanh nghiệp. Việc cung cấp các thông tin chi tiết về ngành nghề, năng lực kinh doanh của
các doanh nghiệp và các định hướng khuyến khích đầu tư nhằm phát triển liên kết giữa các doanh nghiệp FDI và các doanh nghiệp tư nhân là rất quan trọng bởi điều này giúp các công ty xuyên quốc gia (TNC) có thể dễ dàng nhận dạng cơ hội đầu tư và phát hiện được các nhà cung cấp tiềm tàng ở nước chủ nhà.
- Cần có các chính sách giảm chi phí và tăng phần bù đắp cho việc hình thành các liên kết cho cả các doanh nghiệp FDI và các công ty địa phương nhằm tạo ra và khuyến khích các liên kết làm tăng hiệu quả của sản xuất và góp phần vào việc phát tán các tri thức và kỹ năng từ các doanh nghiệp FDI tới các công ty địa phương. Chính phủ có thể đưa ra các ưu đãi như: miễn thuế cho các doanh nghiệp FDI hoặc cho phép các doanh nghiệp FDI được coi các chi phí liên quan tới việc hình thành liên kết là những chi phí được khấu trừ thuế. Mặt khác, cần đặc biệt lưu ý đến tính tương thích của các khuyến khích so sánh với Hiệp định về các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại (Hiệp định TRIM)
- Củng cố và nâng cao vai trò của các Hiệp hội ngành nghề, các tổ chức chính phủ và phi chính phủ làm đầu mối liên kết doanh nghiệp, đại diện cho ngành tìm kiếm, tiếp nhận tài trợ thực hiện các giải pháp phát triển ngành, đầu mối xúc tiến đầu tư, phát triển thị trường, đề xuất các cơ chế chính sách phát triển CNPT;
- Thường xuyên tổ chức và nâng cao tính chuyên nghiệp của các hội chợ, chợ công nghệ, triển lãm và các hội thảo chuyên đề phát triển CNPT cho từng lĩnh vực sản phẩm riêng biệt.
2.6. Các giải pháp về tài chính
- Tạo điều kiện thuận lợi cho các DNNVV có thể dễ dàng tiếp cận được với nguồn vốn vay dài hạn cho đầu tư phát triển. Nghiên cứu kinh nghiệm của Nhật Bản để thành lập hệ thống ngân hàng phục vụ các DNNVV, cơ chế bảo lãnh tín dụng khi thu hồi thông qua các tài khoản phải thu và thế chấp các tài khoản phải thu khi vay vốn của các tổ chức tín dụng nhà nước;
- Có hệ thống, cơ chế tài chính phù hợp hỗ trợ cho các hoạt động tăng cường năng lực công nghệ như các hoạt động khuyến công, hỗ trợ phát triển khoa học - công nghệ, hỗ trợ DNNVV trong việc đầu tư R-D sản xuất sản phẩm phụ trợ;
- Phát triển mạnh cách thức thuê mua tài chính trong mua sắm máy móc, thiết bị, công nghệ cho các doanh nghiệp sản xuất sản phẩm phụ trợ để nâng cao khả năng phát triển và sức cạnh tranh của các doanh nghiệp này;
- Sử dụng vốn ODA để hỗ trợ đào tạo lao động, xây dựng thể chế pháp lý và các chương trình phát triển CNPT, công nghiệp vừa và nhỏ, chương trình hợp tác với các công ty đa quốc gia đầu tư trực tiếp vào Việt Nam.
Ngoài ra, việc đầu tư vào sản xuất phụ trợ rủi ro khôn lường. Nhiều trường hợp các công ty đầu tư tiền bạc, công sức, thời gian vào việc mua sắm dây chuyền, trang thiết bị mới để sản xuất linh kiện, nhưng sản xuất ra nhà lắp ráp lại không mua, sản phẩm khi đó chẳng biết bán cho ai. Chính vì vậy, nên chăng giữa nhà sản xuất và lắp ráp cần phải có cam kết như cung cấp tư vấn, thiết bị, kỹ thuật của chính hãng... để nhà cung cấp linh kiện có niềm tin về vốn.
Bên cạnh đó, khi khả năng giúp nhà cung cấp thỏa thuận về giá trong một nền kinh tế thị trường là giới hạn, cần có một sự bảo hộ hợp pháp chống lại các thỏa thuận và các thực hành kinh doanh không bình đẳng. Các chính sách cạnh tranh đóng vai trò quan trọng ở đây. Chính phủ có thể đóng vai trò đảm bảo tài trợ hợp pháp trong các hợp đồng của các nhà cung cấp với các công ty lớn và cung cấp cho nhà cung cấp các thông tin về giá chuẩn và các cơ hội kinh doanh thay thế hoặc khuyến khích các hiệp hội kinh doanh làm như vậy.
Cuối cùng, một vấn đề cần lưu ý nữa trong hướng đi cho các doanh nghiệp CNPT của Việt Nam, đó là với quy mô thị trường nhỏ như hiện tại, các chuyên gia trong ngành cho rằng nội địa hóa là một bài toán khó cho các doanh nghiệp nếu không tìm hướng xuất khẩu. Trong bản tư vấn cho Bộ Công nghiệp mới đây, Viện Nghiên cứu chiến lược công nghiệp Nhật Bản cho rằng, Việt Nam nên trở thành một cơ sở xuất khẩu cho một số loại linh kiện và ban đầu thực hiện xuất khẩu 90-100%. Việt Nam nên tận dụng các liên doanh đang có mặt để thu hút đầu tư vào sản xuất các cấu phần và linh kiện chuyên biệt. Ví dụ: trong ngành da, đúc hay rèn, Việt Nam rất có lợi thế do có đội ngũ nhân công tay nghề cao và chi phí lao động thấp.

Số lượt người xem: 92Bản in Quay lại
Xem theo ngày: