Skip Ribbon Commands
Skip to main content

 

 
WEBSITE HỮU ÍCH
 
 
  • Lễ khởi công dự án Samsung HCMC CE Complex trong Khu Công nghệ cao
  • Một số hình ảnh cuộc thi Nét đẹp SHTP 2014
  • Một số kết quả hoạt động của Khu Công nghệ cao sau 12 năm thành lập - 24/10/2014
  • Làm chủ công nghệ để phát triển công nghệ cao (P1)
  • Làm chủ công nghệ để phát triển công nghệ cao (P.2)
  • Làm chủ công nghệ để phát triển công nghệ cao (P3)
  • Khóa container công nghệ RFID - Kết quả nghiên cứu giữa SHTPLabs và ICDREC
  • Chương trình Đối thoại chính sách: "Kinh nghiệm của Hàn Quốc về tài chính cho phát triển khoa học công nghệ và hàm ý chính sách đối với Việt Nam" - P1
  • Chương trình Đối thoại chính sách: "Kinh nghiệm của Hàn Quốc về tài chính cho phát triển khoa học công nghệ và hàm ý chính sách đối với Việt Nam" - P2
  • Chương trình Đối thoại chính sách: "Kinh nghiệm của Hàn Quốc về tài chính cho phát triển khoa học công nghệ và hàm ý chính sách đối với Việt Nam" - P3
Quy hoạch KCNCThứ 7, Ngày 07/02/2009, 09:10

GIỚI THIỆU VỀ QUY HOẠCH TỔNG THỂ KHU CÔNG NGHỆ CAO THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH: Phần 4


PHẦN BỐN

KIẾN NGHỊ CÁC CHÍNH SÁCH VÀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN
QUY HOẠCH TỔNG THỂ KHU CÔNG NGHỆ CAO TP. HCM

Trong báo cáo qui hoạch tổng thể khu CNC Tp.Hồ Chí Minh - tháng 11/2002, trình Thủ tướng Chính phủ, UBND Thành phố đã kiến nghị hệ thống các giải pháp mang tính chiến lược và đề xuất một số chính sách, cơ chế ưu đãi nhằm đảm bảo triển khai thực hiện thành công qui hoạch tổng thể Khu CNC Tp.Hồ Chí Minh. Có thể tóm tắt những nhóm giải pháp về cơ chế đặc thù cho Khu công nghệ cao
IV.1. Nhóm giải pháp về cơ chế đặc thù cho Khu công nghệ cao
1. Chủ động triển khai kế hoạch


- Các Bộ Ngành ủy quyền cho Ban quản lý Khu Công nghệ cao thực hiện và quản lý một số nhiệm vụ thuộc chức năng theo hướng: phù hợp với tính đặc thù đối với hoạt động sản xuất công nghệ cao, nghiên cứu-triển khai, ươm tạo và đào tạo công nghệ cao; và được các Sở ngành (thuộc ngành dọc) hỗ trợ theo nguyên tắc “một cửa-tại chỗ”. Đặc biệt, cần mạnh dạn ủy quyền rộng hơn trong lĩnh vực: cấp phép đầu tư (về qui mô vốn, lĩnh vực hoạt động), quản lý đất, qui hoạch, môi trường, quản lý sau phép (lao động, thương mại,...).

- UBND Thành phố chỉ đạo trực tiếp, phê duyệt kế hoạch chương trình hoạt động hàng năm, kiểm tra, giám sát quá trình triển khai thực hiện; giao quyền cho Trưởng ban Ban quản lý được chủ động triển khai thực hiện kế hoạch chương trình công tác hàng năm đã được duyệt và hoàn toàn chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động cũng như việc thực hiện đúng chính sách và qui định của nhà nước có liên quan, không phải “xin ý kiến” các Sở ngành, nhưng phải phối hợp với các Sở ngành được sự hỗ trợ từ Sở ngành; định kỳ báo cáo trực tiếp cho các Bộ ngành, UBND Thành phố.

- Trong trường hợp cần thiết, thông qua cơ quan chủ quản, trình xin ý kiến chỉ đạo trực tiếp từ Thủ tướng Chính phủ và Quốc hội (hoặc UB thường vụ Quốc hội) xem xét, phê duyệt một số chính sách, qui định vượt quá thẩm quyền của Thành phố, của Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ.

- Trưởng ban Ban quản lý Khu Công nghệ cao được giao đủ quyền để chủ động quyết định và chịu trách nhiệm về quyết định của mình liên quan những vấn đề triển khai thực hiện các nhiệm vụ được giao. Ban quản lý Khu Công nghệ cao được ưu tiên tuyển dụng và bố trí cán bộ công chức, viên chức đủ tầm và tâm để triển khai dự án trọng điểm cấp quốc gia; bố trí kinh phí cho hoạt động quản lý nhà nước, các đơn vị sự nghiệp (trong 3 năm đầu) cho hoạt động nghiên cứu triển khai, đào tạo, ươm tạo ý tưởng công nghệ, doanh nghiệp công nghệ cao.
2. Cơ chế quản lý đầu tư xây dựng:

- Thực hiện ủy quyền đồng bộ của Bộ ngành và UBND Thành phố trong quản lý đầu tư xây dựng (ĐTXD) đối với các dự án đầu tư nhóm B,C theo hướng cho Trưởng ban quản lý và thực hiện.

- Trong hướng dẫn của các Bộ ngành về quản lý ĐTXD (ở cả 3 bước - chuẩn bị đầu tư, triển khai thực hiện và nghiệm thu quyết toán) cần xem xét yếu tố cải cách hành chính phù hợp với tính đặc thù riêng cho Khu Công nghệ cao nhằm rút ngắn thời gian mà vẫn đảm bảo chất lượng và thực hành tiết kiệm chống lãng phí thất thoát trong đầu tư xây dựng.
3. Cơ chế quản lý tài chính

- Khu Công nghệ cao là đơn vị dự toán cấp I, đầu mối kế hoạch và ngân sách trực thuộc Trung ương (bao gồm ngân sách do Trung ương cấp và ngân sách do Thành phố cấp), được quyết toán hàng năm chung với ngân sách Thành phố.

- Trưởng ban Ban quản lý Khu Công nghệ cao được quyền ghi tổng vốn đầu tư tại cơ quan tài chính địa phương và chủ động quyết định thu chi ngân sách thuộc các lĩnh vực đầu tư phát triển, hành chính sự nghiệp, các chương trình mục tiêu và các lĩnh vực khác theo mục tiêu, nhiệm vụ kế hoạch xây dựng và phát triển Khu Công nghệ cao đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt hàng năm (không phải chờ xin ý kiến cơ quan tài chính trung ương và địa phương đối với từng dự án, nội dung chi cụ thể như hiện nay), với chế độ báo cáo và kiểm tra định kỳ của UBND Thành phố (trình cấp có thẩm quyền quyết định).

- Trưởng ban Ban quản lý Khu Công nghệ cao được ưu tiên phát hành cổ phiếu, huy động vốn theo từng dự án (kèm chính sách như: đổi đất lấy hạ tầng), có cơ chế riêng để khai thác hạng mục hạ tầng kỹ thuật đòi hỏi chuyên môn cao (viễn thông-internet, nhà máy điện,...).

IV. 2. Nhóm giải pháp về huy động và quản lý vốn
1. Về giải pháp huy động vốn

- Giải pháp cơ bản là thành lập Công ty cổ phần xây dự hạ tầng Khu Công nghệ cao, trong đó Nhà nước nắm giữ không quá 25% vốn điều lệ, nhưng đảm bảo chi phối định hướng hoạt động của Công ty. Công ty Phát triển Khu Công nghệ cao hiện nay (là công ty nhà nước) sẽ được bổ sung vốn điều lệ và trở thành đại diện chủ sở hữu phần vốn góp của nhà nước trong Công ty cổ phần. Công ty cổ phần có chức năng huy động vốn để đầu tư và khai thác toàn bộ hạ tầng kỹ thuật trong Khu Công nghệ cao; Công ty cổ phần sẽ hoạt động theo các qui định pháp luật có liên quan . Như vậy, trong Khu Công nghệ cao sẽ có nhiều loại hình doanh nghiệp đầu tư các loại dự án khác nhau, tránh tình trạng ‘độc quyền­­’ như trong các KCN-KCX, nhưng vẫn đảm bảo tính đồng bộ trong đầu tư khai thác các dự án trong Khu Công nghệ cao.

- Trong bước đầu thành lập và hoạt động, Thành phố đảm bảo hỗ trợ để tạo điều kiện cho Công ty cổ phần hoạt động thuận lợi. Công ty cổ phần được phép tham gia hoạt động xúc tiến thu hút đầu tư vào Khu Công nghệ cao, nhưng phải theo các tiêu chuẩn do Ban thẩm định và cấp phép.

- Các dự án về sự nghiệp phát triển công nghệ cao và tăng cường năng lực nội sinh như khu đào tạo, khu R&D, Vườn ươm cần được nhà nước hỗ trợ tích cực trong thời gian đầu. Nguồn vốn ngân sách tập trung vào đầu tư hạ tầng kỹ thuật cơ bản, thậm chí phải bao cấp trong một thời gian nhất định trước khi các đơn vị này có thể tạo nguồn thu và tự trang trải.
2. Về quản lý và hỗ trợ nguồn vốn

- Đối với các dự án được sử dụng nguồn vốn ngân sách, cần có một chính sách mở và trao quyền sử dụng tổng vốn đầu tư của các dự án thành phần hàng năm cho Trưởng ban Ban quản lý Khu Công nghệ cao sau khi đã được cơ quan quản lý cấp trên phê duyệt kế hoạch năm và Trưởng ban thực hiện báo cáo tình hình sử dụng vốn ngân sách theo định kỳ.

- Có chính sách hỗ trợ và bảo lãnh trong vay vốn đầu tư từ các ngân hàng, các tổ chức tín dụng trong nước và ngoài nước. Có kế hoạch và chủ trương đầu tư bằng nguồn vốn từ các quỹ đầu tư phát triển. Trong thời gian qua, Khu Công nghệ cao đã nhận được một số vốn vay từ nguồn vốn của Quỹ hỗ trợ phát triển, trong đó tập trung vào cho công tác đền bù giải tỏa của Quận 9. Đây là nguồn vốn hỗ trợ cần thíết cho hoạt động xây dựng của Khu Công nghệ cao và trong thời gian tới, Khu Công nghệ cao rất cần có những nguồn vốn tương tự để giải tỏa những áp lực về vốn trong đầu tư xây dựng.

- Nhà nước có chính sách đầu tư một khoản vốn ban đầu (làm vốn mồi) cho việc thành lập các quỹ như: Quỹ tín dụng bù trừ; Quỹ đầu tư mạo hiểm; xây dựng các trung tâm nghiên cứu – thí nghiệm khoa học và hỗ trợ hoạt động của trung tâm ươm tạo công nghệ cao.

- Ban hành các văn bản hướng dẫn, triển khai của các Bộ Ngành về Nghị định 99/2003/NĐ-CP về Quy chế Khu công nghệ cao-trong đó có nội dung về tài chính và nguồn vốn cung cấp cho hoạt động của Khu Công nghệ cao và một số đơn vị trực thuộc (như trung tâm đào tạo, R&D, vườn ươm). Đồng thời, thực hiện nội dung Quyết định 95/2003/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ về xác định cơ cầu tỷ lệ vốn đầu tư từ ngân sách trung ương và Thành phố cho các hạng mục đầu tư trong Khu Công nghệ cao. Cấp và phân bổ ngân sách cho Khu Công nghệ cao để thực hiện các dự án phù hợp với đề án nghiên cứu khả thi đã được phê duyệt. Ưu tiên phân bổ vốn ODA viện trợ không hoàn lại cho công tác nghiên cứu khoa học, đào tạo nhân lực cho Khu, hỗ trợ ươm tạo công nghệ cao.

- Có một cơ chế tài chính đặc biệt được Thủ tướng chính phủ phê duyệt, trong đó: Được ghi tổng vốn đầu tư mỗi năm và chủ động sử dụng nguồn vốn này trong thực hiện kế hoạch năm đã được cơ quan quản lý trực tiếp phê duyệt và Trưởng ban Ban quản lý Khu phải chịu trách nhiệm; Giải ngân và quản lý vốn theo một qui trình đặc biệt phù hợp với cơ chế mở dành cho Khu Công nghệ cao; Xác định và thực hiện nguồn thu được giữ lại để thực hiện tái đầu tư; Quy định về phát hành trái phiếu công trình, đấu thầu xây dựng hạ tầng, quản lý dự án đầu tư, đấu giá quyền sử dụng đất, … Hành lang pháp lý và cơ chế tài chính trong Khu Công nghệ cao sẽ là phương tiện giúp khai thác triệt để và sử dụng tổng hợp các nguồn vốn thương mại và vốn trong dân, vốn đầu tư trực tiếp của các doanh nghiệp. Đây là nguồn vốn chính để xây dựng và phát triển Khu Công nghệ cao.
3. Cơ chế ưu đãi tài chính

- Có cơ chế và chính sách ưu đãi đầu tư và hoa hồng môi giới đầu tư vào Khu Công nghệ cao. Chú trọng các giải pháp hỗ trợ ưu đãi về thuế: thu nhập doanh nghiệp, thuế XNK, các ưu đãi và cải tiến môi trường đầu tư. Việc chi môi giới hoa hồng đối với các dự án đầu tư chính thức vào Khu Công nghệ cao cũng cần được qui định cụ thể và công khai nhằm tạo điều kiện hấp dẫn cho các nhà môi giới đầu tư trong và ngoài nước.

- Khu Công nghệ cao cũng đương nhiên được hưởng và áp dụng, không phải qua thủ tục xin mới hay bổ sung về các ưu đãi cho các Khu công nghiệp, khu kinh tế hay các địa phương đặc biệt.

- Có cơ chế chính sách ưu đãi về thu nhập, trợ cấp, thuế thu nhập, hỗ trợ trong sinh hoạt, nhà ở - đi lại, nhằm thu hút lực lượng chất xám trong và ngoài nước để tham gia cộng tác và làm việc trong Khu Công nghệ cao.

IV. 3. Nhóm giải pháp về Nguồn nhân lực
1. Về đào tạo nguồn nhân lực


- Tạo một mạng lưới liên kết đào tạo nguồn nhân lực của các Trường, Viện trong cả nước để cung ứng nhu cầu cho Khu Công nghệ cao và các nhà đầu tư. Trung âm đào tạo Khu Công nghệ cao tiến hành hợp tác đào tạo nguồn nhân lực công nghệ cao với các Trường, Viện nước ngoài.

- Thu hút các Trường Đại học, Viện nghiên cứu Quốc tế vào đào tạo, hợp tác đào tạo nguồn nhân lực công nghệ cao, biến Khu Công nghệ cao trở thành một đầu tàu về đào tạo nguồn nhân lực công nghệ cho cả vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, khu vực ASEAN vv….
2. Về thu hút nhân tài vào làm việc tại Khu Công nghệ cao

- Trả lương thỏa đáng, kèm theo ưu đãi chính sách thuế thu nhập, khuyến khích và được cung cấp các tiện ích. Xây dựng khu nhà ở và các công trình phụ trợ cho chuyên gia lưu trú trong khi làm việc. Áp dụng điều kiện dễ dãi trong đi lại, cư trú.

- Bảo hộ quyền sở hữu đối với vốn đầu tư, tài sản, lợi nhuận, quyền sở hữu trí tuệ, các quyền và lợi ích hợp pháp khác của các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân hoạt động tại Khu Công nghệ cao.

- Miễn thuế nhập khẩu đối với tài sản cá nhân do người nước ngoài hoặc Việt kiều làm việc cho Ban Quản lý Khu Công nghệ cao (cùng gia đình của họ) mang vào Việt Nam.

- Miễn thuế lợi tức bản quyền trong 10 năm. Chi phí bản quyền và nghiên cứu phát triển không bị chịu thuế.

- Tổ chức các đợt tuyên truyền, vận động ở nước ngoài đối với lực lượng trí thức Việt kiều về đầu tư, làm việc trong Khu Công nghệ cao hoặc cộng tác làm việc theo các đề tài, chuyên đề của Khu Công nghệ cao Tp. Hồ Chí Minh. Đồng thời có chính sách ưu đãi riêng ổn định, để thu hút nguồn nhân lực Việt kiều có trình độ cao ở nước ngoài.

- Có chính sách ưu đãi, hỗ trợ trọn gói cho các nhân tài trong hay ngoài nước vào cộng tác/ tham gia vào các dự án công nghệ cao như: chi phí đi lại, chổ ở gia đình, chi phí tư liệu, vật tư dùng cho nghiên cứu.

- Có chính sách ưu đãi cho các tổ chức, doanh nghiệp công nghệ cao, sử dụng nhân tài trong Khu Công nghệ cao.

- Bãi bỏ qui định về tỷ lệ người nước ngoài hay Việt kiều làm việc tại các doanh nghiệp công nghệ cao.

- Áp dụng chính sách thuế thu nhập cá nhân ưu đãi.

- Khu Công nghệ cao được phép tuyển dụng nguồn nhân lực ngoài tỉnh về làm việc trong Ban Quản lý Khu Công nghệ cao và các Đơn vị trong Khu Công nghệ cao.

- Có chính sách ưu đãi cụ thể về thu hút nguồn nhân lực Việt kiều về làm việc cho Ban Quản lý Khu Công nghệ cao và các đơn vị thành viên.

IV. 3. Sự hỗ trợ của các cơ quan quản lý nhà nước

Để có các quyết sách mạnh mẽ, kịp thời, đáp ứng được yêu cầu cấp thiết cho xây dựng và phát triển Khu Công nghệ cao, đề nghị Chính phủ phân công cụ thể trách nhiệm của các Bộ ngành có liên quan thực hiện và hỗ trợ Khu Công nghệ cao soạn các chính sách trình Chính phủ. Cụ thể: Về cơ chế quản lý Nhà nước: Giao Bộ Nội vụ; Về Cơ chế quản lý đầu tư xây dựng: Giao Bộ Xây dựng; Về Cơ chế quản lý tài chính: Giao Bộ Tài Chính; Về chính sách nguồn nhân lực: Giao Bộ Giáo dục Đào tạo, Bộ Khoa học & công nghệ; Về chính sách về thu hút tài chính cho đầu tư vào lĩnh vực Công nghệ cao: Giao Bộ Tài Chính. UBND Thành phố có trách nhiệm phối hợp ở tất cả các nội dung./.


Số lượt người xem: 977Bản in Quay lại
Xem theo ngày: