Skip Ribbon Commands
Skip to main content

 

 
WEBSITE HỮU ÍCH
 
 
  • Lễ khởi công dự án Samsung HCMC CE Complex trong Khu Công nghệ cao
  • Một số hình ảnh cuộc thi Nét đẹp SHTP 2014
  • Một số kết quả hoạt động của Khu Công nghệ cao sau 12 năm thành lập - 24/10/2014
  • Làm chủ công nghệ để phát triển công nghệ cao (P1)
  • Làm chủ công nghệ để phát triển công nghệ cao (P.2)
  • Làm chủ công nghệ để phát triển công nghệ cao (P3)
  • Khóa container công nghệ RFID - Kết quả nghiên cứu giữa SHTPLabs và ICDREC
  • Chương trình Đối thoại chính sách: "Kinh nghiệm của Hàn Quốc về tài chính cho phát triển khoa học công nghệ và hàm ý chính sách đối với Việt Nam" - P1
  • Chương trình Đối thoại chính sách: "Kinh nghiệm của Hàn Quốc về tài chính cho phát triển khoa học công nghệ và hàm ý chính sách đối với Việt Nam" - P2
  • Chương trình Đối thoại chính sách: "Kinh nghiệm của Hàn Quốc về tài chính cho phát triển khoa học công nghệ và hàm ý chính sách đối với Việt Nam" - P3
Quy hoạch KCNCThứ 7, Ngày 07/02/2009, 09:10

GIỚI THIỆU VỀ QUY HOẠCH TỔNG THỂ KHU CÔNG NGHỆ CAO THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH: Phần 2



PHẦN HAI
CƠ SỞ THIẾT KẾ QUY HOẠCH TỔNG THỂ
KHU CÔNG NGHỆ CAO TP. HỒ CHÍ MINH
II-1. Chủ trương của Đảng và Nhà nước về phát triển công nghệ cao

Chiến lược phát triển CNC đã được Đảng và Chính phủ quyết tâm chính thức đẩy mạnh từ 15 năm qua, giải quyết nguy cơ ngày càng tụt hậu và tụt hậu xa hơn về trình độ công nghệ trong sản xuất so với các nước trong khu vực.

Nghị quyết Đại hội toàn quốc Đảng Cộng Sản Việt Nam lần thứ IX tiếp tục khẳng định quyết tâm đi vào làm chủ CNC qua định hướng phát triển khoa học - công nghệ: "Đẩy mạnh đổi mới công nghệ trong sản xuất, kinh doanh và các lĩnh vực hoạt động khác, thu hẹp khoảng cách về trình độ công nghệ so với các nước tiên tiến trong khu vực. Đi thẳng vào công nghệ hiện đại đối với các ngành mũi nhọn, đồng thời lựa chọn các công nghệ thích hợp, không gây ô nhiễm và khai thác được lợi thế về lao động. Chú trọng nhập khẩu công nghệ mới, hiện đại, thích nghi công nghệ nhập khẩu, cải tiến từng bộ phận, tiến tới tạo ra những công nghệ đặc thù Việt Nam. Hiện đại hóa công nghệ trong quản lý. Hoàn thành xây dựng hai khu công nghệ cao ở gần Hà Nội và Tp. Hồ Chí Minh, xây dựng một số phòng thí nghiệm trọng điểm đạt trình độ tiên tiến của khu vực". [1]
II-2 Quan điểm xây dựng và phát triển Khu Công nghệ cao Tp. Hồ Chí Minh

Đối với Khu CNC Tp. Hồ Chí Minh, quan điểm về chủ trương, chiến lược xây dựng Khu CNC được thể hiện với các nội dung chủ yếu như sau:

1. Mang tính thực tiễn, khả thi và một chiến lược học hỏi toàn diện

a. Tính Thực tiễn - Để đảm bảo tiếp cận thẳng nền khoa học công nghệ hiện đại, đặc biệt là CNC, đối với một nước chậm phát triển và chưa qua giai đoạn công nghiệp hóa như nước ta, Khu CNC Tp.Hồ Chí Minh phải có những bước đi và cách làm phù hợp với thực tế, đó là:

- Phải thu hút các công ty CNC nước ngoài, đặc biệt là những tập đoàn có công nghệ nguồn vào đầu tư sản xuất CNC để từ đó ta có điều kiện tiếp cận với sản xuất CNC bằng cả một hệ thống: từ cán bộ quản lý, chuyên viên, kỹ thuật viên, đến công nhân lao động kỹ thuật, từ các dịch vụ kỹ thuật, cung ứng cơ sở hạ tầng cho đến dịch vụ sinh hoạt.... Sau một thời gian không lâu ta sẽ hiểu biết và có khả năng thây thế hoặc tổ chức sản xuất tương tự.

- Từ tiếp cận sản xuất CNC ta từng bước tiếp thu, học hỏi, ứng dụng, chuyển giao công nghệ song song với việc tự mình tổ chức các cơ sở nghiên cứu triển khai khoa học công nghệ dựa vào đội ngũ các nhà khoa học, các viện trường trong nước và thu hút các nhà khoa học Việt kiều hợp tác hoạt động trong Khu CNC, tại Trung tâm R&D với các phòng thí nghiệm thích hợp.

b. Tính Khả thi: Khu CNC Tp. Hồ Chí Minh cần triển khai nhanh chóng tất cả các nhiệm vụ do Chính phủ và Thành phố giao - thể hiện qua các quyết định đầu tư xây dựng GĐ I Khu CNC. Đảm bảo tính khả thi cũng có nghĩa là ngoài việc đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật hoàn chỉnh và có chất lượng để phục vụ tốt nhất cho các nhà đầu tư CNC và các hoạt động trong Khu, việc thu hút CNC cần thiết khởi động bằng cách dựa vào nguồn lực công nghiệp CNC từ các Công ty nước ngoài làm “bước đột phá” đầu tiên.

c. Chiến lược học hỏi toàn diện: Đây là một Chương trình hành động mang tính chiến lược, kết hợp tiếp thu hiệu quả luồng tri thức, công nghệ, bí quyết từ bên ngoài, biến “bước đột phá” đầu tiên từ các Công ty xuyên/đa quốc gia trong quá trình hình thành thị trường sản phẩm CNC, thành nguồn lực công nghệ nội sinh.

2. Đầu tư nhằm tăng cường năng lực khoa học công nghệ nội sinh là yêu cầu chiến lược lâu dài

Khu CNC Tp. Hồ Chí Minh cần phải tạo ra một hình ảnh mới và phương thức hoạt động mới bằng việc xây dựng những trung tâm nghiên cứu khoa học công nghệ hiện đại và gắn với thị trường nhằm làm hạt nhân phát triển năng lực nội sinh, đồng thời đẩy mạnh phát triển đào tạo nhân lực với trình độ cao. Mặc khác Khu CNC cần phải sớm xây dựng những trung tâm ươm tạo doanh nghiệp CNC làm cơ sở cho việc ứng dụng và triển khai những thành tựu khoa học mới, đồng thời thực hiện việc liên kết phối hợp hoạt động của các trung tâm này nhằm tạo một mối quan hệ tương ứng, hỗ trợ nhau trong hoạt động và phát triển.

Cần phải huy động đội ngũ khoa học kỹ thuật trong nước kết hợp với lực lượng các nhà khoa học Việt kiều đã từng tham gia làm việc tại các công ty lớn về khoa học công nghệ trên thế giới - điều đó không những thu hút những kinh nghiệm về nghiên cứu khoa học công nghệ mà còn làm cầu nối liên kết cho các hoạt động của Khu CNC với các tập đoàn, công ty trên thế giới và khả năng tiếp cận những thành tựu khoa học CNC trên thế giới.
II-3 Mô hình và các giai đoạn phát triển Khu Công nghệ cao Tp. Hồ Chí Minh

Mô hình Khu Công nghệ cao

- Khu kinh tế kỹ thuật đa chức năng (trong khu có nhiều loại hình hoạt động và thay đổi tỷ trọng theo thời gian và bối cảnh): khu sản xuất CNC, khu nghiên cứu triển khai, đào tạo nguồn nhân lực, khu thương mại dịch vụ, khu cây xanh- cảnh quan, nghỉ ngơi, thư giãn…

- Một không gian tri thức để sáng tạo khoa học, công nghệ.

- Một không gian mở: gắn kết giữa đào tạo, nghiên cứu-triển khai CNC với sản xuất CNC dịch vụ, ươm tạo CNC và với thị trường, gắn hoạt động trong nước và nước ngoài.

- Một tiểu đô thị, hạt nhân của một đô thị khoa học trong tương lai tại cửa ngỏ phía Đông của Thành phố.
Các giai đoạn phát triển

a. Khởi nghiệp (2003-2005): Chuẩn bị đất đai xây dựng, xúc tiến đầu tư và tạo hình ảnh, thương hiệu Khu CNC Tp. Hồ Chí Minh trên cả nước và thế giới.

b. Định hình (2006 - 2008): Thu hút FDI công nghiệp CNC từ các công ty lớn có tiềm lực mạnh về CNC trên thế giới, nhằm thu hút, thích nghi hoá và khuyếch tán CNC tới các ngành công nghiệp có thế mạnh của Thành phố và khu vực. Đồng thời cũng bắt đầu các hoạt động nghiên cứu-đào tạo, đặc biệt là ươm tạo doanh nghiệp CNC, nhằm góp phần xây dựng năng lực nội sinh về CNC.

c. Tăng tốc (2009-2015): Phát triển bền vững: tiếp tục phát triển các chức năng về xây dựng nền công nghiệp CNC, đồng thời tăng cường đầu tư các hoạt động nghiên cứu - triển khai, phát triển năng lực nội sinh về CNC, xây dựng Khu CNC trở thành nguồn động lực CNC cho phát triển kinh tế ở phía Nam và cả nước.

Tuỳ điều kiện tình hình thực tế và khả năng thu hút đầu tư FDI, cũng như khả năng xây dựng các trung tâm nghiên cứu - ươm tạo - đào tạo CNC, phát triển Khu CNC vừa có thể tiến hành tuần tự, vừa có thể thực hiện đCn xen và nhảy vọt. Tất cả các hoạt động này đều nhằm mục tiêu và chiến lược phát triển lâu dài và bền vững cho Khu CNC và phù hợp với cơ chế, chính sách đặc thù của Khu CNC.

Vấn đề lưu ý xuyên suốt khi xây dựng Khu CNC là kỳ vọng “được chuyển giao công nghệ” từ các tập đoàn, công ty có công nghệ nguồn vào đầu tư ở Khu CNC không phải là chính yếu, chúng ta chỉ hy vọng có thể tiếp nhận công nghệ qua con người: kỹ năng CNC trên dây chuyền sản xuất qua công nhân, kỹ thuật viên, các chuyên gia, nhà nghiên cứu Việt Nam làm việc trực tiếp tại các công ty này.
II-3. PHÂN TÍCH CƠ HỘI QUA THỰC TIỄN XÂY DỰNG KHU CÔNG NGHỆ CAO TP. HỒ CHÍ MINH
II-3.1 Thời cơ


Có ba thời cơ lớn trong thời kỳ khởi động Khu CNC Tp. Hồ Chí Minh:

1. Thời cơ (1): Các kết quả thành công của Khu CNC Tp. Hồ Chí Minh trong việc thu hút FDI từ các tập đoàn có công nghệ nguồn, CNC đang chiếm phần quan trọng của thị trường sản phẩm CNC trên thế giới như:

- Tập đoàn HP (Mỹ): ký hiệp định khung vào tháng 01 năm 2003 về đầu tư vào Khu CNC. Nhà cung cấp linh kiện Allied Technology đã tiến hành đầu tư với số vốn ban đầu 23 triệu USD.

- Tập đoàn Nidec (Nhật): đầu tư xây dựng trên 33 ha đất với tổng vốn dự kiến khoảng 01 tỷ USD trong 10 năm (từ năm 2005).

- Công ty CNC Sonion (Đan Mạch) đầu tư nhà máy linh kiện điện tử với số vốn 25 triệu USD và có dự kiến tăng gấp đôi vốn đầu tư trong năm sau.

- Tập đoàn Intel (Mỹ): đã nhận giấy phép đầu tư từ tháng 02 năm 2006, đầu tư nhà máy lắp ráp và kiểm tra chíp vi mạch với số vốn 605 triệu USD trên khu đất 46 ha.

- Các dự án CNC khác về công nghệ sinh học, viễn thông, cơ khí chính xác,..

2. Thời cơ (2): Khả năng tập họp lực lượng tri thức trong/ngoài nước để tiếp cận CNC và tiến tới làm chủ, sáng tạo công nghệ mới cũng đã được khẳng định qua việc hình thành phát triển Trung tâm R&D. Một số tri thức Việt kiều đã trở về làm việc trong Khu CNC với kiến thức hiện đại, kết hợp với các chuyên gia trong nước bắt đầu hình thành lực lượng sản xuất mới. Cũng như đã có một số dự án CNC của các Việt Kiều đầu tư vào Khu như Nugen Biotech, NTL, Citres, DGS..

3. Thời cơ (3): Đang có xu hướng điều chỉnh lại việc đầu tư của các nước có công nghệ nguồn như Mỹ, Nhật không tập trung hết vào Trung Quốc. Trong chu trình lưu chuyển công nghệ của thế giới Việt Nam đang là trọng tâm thu hút của các nhà đầu tư công nghệ nhờ tính ổn định, an toàn, tốc độ phát triển cao, tiềm năng nhân lực lớn.

Các nhân tố trên đã phát sinh vấn đề cần xem xét điều chỉnh các quy hoạch khu chức năng sản xuất CNC để đáp ứng yêu cầu thực tế xây dựng của các nhà đầu tư, cần thiết điều chỉnh các công trình và vốn đầu tư xây dựng, cũng như cần có bổ sung về thiết lập một số lĩnh vực dịch vụ CNC kèm theo, nhanh chóng đáp ứng về nguồn nhân lực CNC.
II-3.2 Nhu cầu phải có các khu chức năng hỗ trợ phát triển công nghệ cao

Quy hoạch tổng thể đã phê duyệt vào năm 2003 chưa dự kiến hết nhu cầu cụ thể về các khu chức năng hỗ trợ phát triển CNC. Tuổi thọ của đa số các sản phẩm CNC đều ngắn, do vậy nhất thiết phải nhanh chóng đưa ngay kết quả R&D ra thị trường. Sản xuất và nghiên cứu-triển khai CNC đều cần có các dịch vụ:

- Có một khu “chợ” thường trực để trao đổi, đặt hàng nhanh chóng với giá cả cạnh tranh để mua bán các sản phẩm, bán thành phẩm phục vụ các doanh nghiệp CNC trong Khu CNC. Khu “chợ” này không thể theo mô hình “Techmart” mổi năm (hay mổi quý) tổ chức một lần, mà phải là mô hình một “cảng công nghệ” (Technology port hay Bonded Zone) để thúc đẩy kinh doanh sản phẩm CNC.

- Cung cấp các linh kiện phụ trợ cơ bản (supporting industry), dịch vụ hậu cần CNC ngay cạnh các khu nghiên cứu, sản xuất CNC. Thị trường nội địa chưa có khả năng cung ứng đầy đủ các loại thiết bị, phụ tùng linh kiện, vật tư, nguyên liệu, hóa chất, gas v.v... cho Khu CNC và mặt khác muốn có một nền sản xuất công nghiệp nền tảng phải cần thời gian dài. Sự cần thiết thành lập Khu Bảo thuế theo dạng Khu kinh tế mở, Khu ngoại quan, ở đó các công ty nước ngoài sẽ mang vào đủ các loại sản phẩm hàng hóa CNC theo yêu cầu của thị trường CNC, kể cả giao dịch "ngoại quan“.

- Một số dự án công nghiệp hỗ trợ thực sự cần có hoạt động trong Khu CNC như sản xuất để cung cấp tại chổ các loại khí, gas.., các dạng cung cấp linh kiện đặc biệt,… với quy mô vừa và nhỏ để phục vụ cho các dự án CNC khác sẽ được thẩm định kỹ để cấp phép đầu tư. Các dự án công nghiệp hỗ trợ với quy mô lớn đều khuyến khích vào các khu công nghiệp lân cận Khu CNC.

- Khu hậu cần tập trung các dịch vụ hậu cần cho sản xuất CNC và các hoạt động đa dạng của Khu CNC. Bao gồm cả dịch vụ xuất, nhập theo yêu cầu, chuyển phát nhanh, giao nhận hàng, cung ứng, bao gói, Kho ngoại quan, kho trung chuyển v.v...

- Khu ươm tạo doanh nghiệp CNC các Vườn ươm doanh nghiệp CNC do các công ty, tập đoàn, trường đại học,... và cả Nhà nước đầu tư. Trong khu cũng có các văn phòng, cơ sở đại diện của các định chế tài chính, hỗ trợ doanh nghiệp công nghệ như: quỹ đầu tư mạo hiểm, quỹ phát triển khoa học và công nghệ, ngân hàng, công ty tài chính,...

- Bổ sung chức năng Khu công trình đầu mối kỹ thuật hạ tầng: nhà máy điện. Đáp ứng yêu cầu về chất lượng nguồn điện rất nghiêm ngặt của các nhà sản xuất CNC, Khu CNC cần có một nhà máy điện dự phòng và bổ sung để cung cấp điện ổn định cho khách hàng, trước tình hình lưới điện khu vực không đảm bảo các yêu cầu rất cao về chất lượng. Nhà máy điện Khu CNC ngoài chức năng nêu trên còn có thể kinh doanh điện, cung cấp cho lưới quốc gia khi thừa công suất. Như vậy, dự án này có khả năng thu hút vốn ngoài ngân sách tham gia đầu tư khai thác.
II-3.3 Nhu cầu điều chỉnh, ban hành chính sách, cơ chế đặc thù

Qua 3 năm xây dựng Khu CNC (2003-2005), do vẫn áp dụng một cơ chế chung cho một công trình bình thường, nên việc xây dựng Khu CNC không đáp ứng yêu cầu tiến độ, các yêu cầu của nhà đầu tư, huy động các nguồn lực... Các vấn đề kiến nghị bao gồm:

- Cơ chế đặc thù quản lý Khu CNC về: đầu tư, xây dựng, đất đai, huy động vốn, quản lý tài chính, ưu đãi nhân tài, tổ chức quản lý các khu vực chức năng như dịch vụ cao cấp, bảo thuế, hậu cần...

- Cơ chế liên kết, phối hợp vùng, quốc gia: hình thành khu đô thị khoa học-công nghệ ở Đông Bắc Thành phố, khuếch tán công nghệ, các phối hợp về công nghiệp hỗ trợ CNC.

- Chính sách đầu tư mạnh mẽ vào việc thúc đầy R&D, xây dựng các phòng thí nghiệm, đào tạo nhân lực cấp bách cho nhu cầu phát triển CNC. Trong Nghị định số 99/2003/NĐ-CP có đề cập chung, bao quát, nhưng chưa có thông tư hướng dẫn cụ thể cho các ngành, các cấp hỗ trợ.

- Vấn đề cơ chế vốn đầu tư giữa trung ương và địa phương và phương cách cấp vốn theo kế hoạch.


Số lượt người xem: 408Bản in Quay lại
Xem theo ngày: