Skip Ribbon Commands
Skip to main content

 

 
WEBSITE HỮU ÍCH
 
 
  • Lễ khởi công dự án Samsung HCMC CE Complex trong Khu Công nghệ cao
  • Một số hình ảnh cuộc thi Nét đẹp SHTP 2014
  • Một số kết quả hoạt động của Khu Công nghệ cao sau 12 năm thành lập - 24/10/2014
  • Làm chủ công nghệ để phát triển công nghệ cao (P1)
  • Làm chủ công nghệ để phát triển công nghệ cao (P.2)
  • Làm chủ công nghệ để phát triển công nghệ cao (P3)
  • Khóa container công nghệ RFID - Kết quả nghiên cứu giữa SHTPLabs và ICDREC
  • Chương trình Đối thoại chính sách: "Kinh nghiệm của Hàn Quốc về tài chính cho phát triển khoa học công nghệ và hàm ý chính sách đối với Việt Nam" - P1
  • Chương trình Đối thoại chính sách: "Kinh nghiệm của Hàn Quốc về tài chính cho phát triển khoa học công nghệ và hàm ý chính sách đối với Việt Nam" - P2
  • Chương trình Đối thoại chính sách: "Kinh nghiệm của Hàn Quốc về tài chính cho phát triển khoa học công nghệ và hàm ý chính sách đối với Việt Nam" - P3
Quy hoạch KCNCThứ 7, Ngày 07/02/2009, 09:15

GIỚI THIỆU VỀ QUY HOẠCH TỔNG THỂ KHU CÔNG NGHỆ CAO THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH: Phần 3


PHẦN BA
QUY HOẠCH TỔNG THỂ
KHU CÔNG NGHỆ CAO TP. HỒ CHÍ MINH

I. Hoàn thiện quy hoạch tổng thể Khu CNC Tp. Hồ Chí Minh:
1. Làm rõ chức năng hoạt động của Khu Công nghệ cao


Theo Quyết định 95/2003/QĐ-TTg, Khu Công nghệ cao Tp. Hồ Chí Minh có 04 chức năng: Thu hút đầu tư sản xuất sản phẩm công nghệ cao; Tổ chức các hoạt động nghiên cứu, ứng dụng và đào tạo nhân lực công nghệ cao; Ươm tạo công nghệ cao và doanh nghiệp công nghệ cao; Tổ chức các hoạt động dịch vụ hỗ trợ phát triển công nghệ cao. Cần thiết bổ sung thêm một số chức năng sau đây để tạo cho Khu Công nghệ cao là một khu kinh tế kỹ thuật đa chức năng theo Quy chế Khu Công nghệ cao (NĐ 99):

- Hình thành một khu vực trao đổi, mua bán tự do các sản phẩm công nghệ cao với việc xây dựng một khu Bảo thuế để thúc đẩy thị trường sản phẩm công nghệ cao, thiết bị, phụ tùng, linh kiện, vật tư, nguyên liệu, hoá chất, tạo thuận lợi cho các công ty trong và ngoài nước giao dịch với nhau.

- Cung ứng các dịch vụ thiết yếu và các điều kiện hỗ trợ sản xuất công nghệ cao về hậu cần, linh kiện bán thành phẩm, nguyên nhiên liệu chế biến tại chổ cho các doanh nghiệp sản xuất công nghệ cao. Cung ứng các hạ tầng kỹ thuật chất lượng cao như nguồn điện ổn định, mạng dịch vụ viễn thông tiên tiến, dịch vụ cao cấp.

2. Điều chỉnh Quy hoạch chung về xây dựng

- Về không gian-Kiến trúc: Khu Công nghệ cao sẽ điều chỉnh quy hoạch tổng thể, để tổ chức 3 cổng (theo 3 hướng) ra vào chính cho toàn Khu. Các giao tiếp với bên ngoài đều đảm bảo theo nguyên tắc ”mở”, liên kết vùng, khu vực. Tăng chiều cao, tầng cao cho các khối kiến trúc tại các khu chức năng: quản lý điều hành, dịch vụ nhằm phù hợp với công năng khai thác và tăng tính hiệu quả, tiết kiệm. Giảm mật độ xây dựng, nhất là ở trục chính - bộ mặt của Khu Công nghệ cao, hay những nơi cần gìn giữ môi trường và cảnh quan thiên nhiên, các khu điểm nhấn trong không gian kiến trúc.

- Bổ sung, điều chỉnh các phân khu chức năng: Ngoài 7 khu chức năng đã được nghiên cứu và thông qua trong quy hoạch tổng thể theo Quyết định 95/2003/QĐ- TTg, trong giai đoạn II bổ sung thêm: Khu bảo thuế; Khu công nghiệp hỗ trợ; Khu Hậu cần; Nhà máy điện dự phòng.
3. Điều chỉnh qui mô sử dụng đất

- Nhu cầu điều chỉnh: Nhu cầu đất dành cho các công ty, tập đoàn đã đăng ký đầu tư vào Khu Công nghệ cao hiện vượt quá diện tích dành cho sản xuất công nghệ cao theo dự tính ban đầu. Do bổ sung một số phân khu chức năng mới cần đảm bảo diện tích của các phân khu theo cơ cấu, tỷ lệ cân đối, thích hợp. Do xử lý ranh giới Khu Công nghệ cao, tăng giảm các khu vực liên quan đến địa phương xung quanh.

- Nội dung điều chỉnh: Nhằm tạo điều kiện nhanh chóng xây dựng các phân khu chức năng mới UBND Tp. Hồ Chí Minh đã ban hành một số Quyết định (số 2717/QĐ- UB ngày 18/07/2003;số 2193/QĐ-UB ngày 19/05/2004) xác định tổng diện tích đất đã thu hồi và giao cho Ban quản lý Khu công nghệ cao là 9.131.633 m2. Như vậy, diện tích sau khi được bổ sung và đề nghị điều chỉnh là: Giai đoạn I: 332 ha; Giai đoạn II: 581 ha, điện tích toàn Khu là 913 ha.
Như vậy về quy mô sử dụng đất, Điều chỉnh qui hoạch tập trung vào việc tăng thêm diện tích đất cho các khu sản xuất công nghệ cao; khu nghiên cứu – phát triển và đào tạo - ươm tạo công nghệ cao; khu Bảo thuế; khu hậu cần, khu CN hỗ trợ; khu nhà ở. Đồng thời để phát triển hài hòa các khu chức năng, đã điều chỉnh giảm diện tích các khu dịch vụ công nghệ cao; khu cây xanh- mặt nước, khu giao thông – bãi đậu xe; và khu hạ tầng đầu mối.

3. Mô hình quản lý Khu

Về cơ bản, mô hình tổ chức bộ máy quản lý của Ban quản lý Khu Công nghệ cao không thay đổi so với mô hình đã được xác định trong Nghị định 99/2003/NĐ-CP, chỉ đề nghị điều chỉnh, bổ sung một số điểm sau:

- Lập Công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng và khai thác hạ tầng Khu Công nghệ cao. Công ty Phát triển Khu Công nghệ cao là cổ đông góp vốn nhà nước trong Công ty này. Đây là mô hình dự kiến sẽ được triển khai trong giai đoạn II xây dựng Khu Công nghệ cao. Công ty Cổ phần này không phải là đơn vị duy nhất (độc quyền) đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng và các công trình khác trong Khu Công nghệ cao.

- UBND TP sẽ tổ chức lại “Ban quản lý các dự án Đầu tư Xây dựng Khu Công nghệ cao” để đảm bảo đúng chức năng là một đơn vị trực thuộc của Ban quản lý Khu Công nghệ cao, nhằm đảm bảo triển khai đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng các giai đoạn được đúng tiến độ và đảm bảo chất lượng.

4. Mối quan hệ giữa các phân khu chức năng trong Khu Công nghệ cao


5. Dịch vụ kỹ thuật - công nghệ cao, dịch vụ hỗ trợ, khu bảo thuế

Với chức năng là một Khu kinh tế- kỹ thuật đa chức năng, và định hướng hoạt động bao gồm 3 thành phần: phần cứng, phần mềm, dịch vụ. Từ đó, để tạo ra một sự đồng bộ trong hoạt động của cả Khu CNC việc xây dựng các Khu Dịch vụ kỹ thuật - công nghệ cao, dịch vụ hổ trợ, khu bảo thuế là cần thiết. Bên cạnh các khu này bảo đảm phục vụ cho các hoạt động công nghệ cao (sản xuất, nghiên cứu công nghệ cao, vv…) và các dịch vụ sinh hoạt để tạo ra một không gian sống cho cả cộng đồng trong Khu CNC.

Sự thành công của một số Khu CNC tại các nước công nghiệp phát triển được tổng kết là dựa vào cơ sở hạ tầng và cung ứng hậu cần (logistics) rất tốt đã có sẵn của các nước đó, tạo điều kiện thuận lợi tối đa cho việc cung cấp vật tư, phụ kiện, nguyên nhiên liệu đặc biệt cho các dây chuyền sản xuất CNC. Ví dụ: Silicon Valley nằm kề bên cảng San Francisco và Oakland; Hàng hoá xuất nhập nhanh chóng với chi phí rẻ nhất.

Tại các nước châu Á đang kiến tạo các Khu CNC hiện đại, các nhà quy hoạch đều bắt đầu từ việc liên kết hình thành một vùng gồm: sân bay, cảng - khu bảo thuế (Free Trade Zone) - khu chế xuất - khu công nghiệp hỗ trợ - khu dân cư đô thị mới - khu công nghệ cao.

Việc tích hợp các chức năng hỗ trợ trên mới tạo sự phát triển bền vững của Khu CNC. Thậm chí có trường hợp Khu Bảo thuế Ngoại Cao Cầu-Thượng Hải-Trung Quốc (Waigaoqiao Free Trade Zone) ra đời trước, sau đó mới hình thành dần một hay hai Khu CNC nằm kề, ví dụ: Khu CNC Trường Giang, và một số nhà máy CNC như Intel họat động ngay trong khu bảo thuế v.v...

(6.) Mô hình liên kết các nguồn lực trong/ngoài Khu Công nghệ cao
Khu CNC Tp. Hồ Chí Minh được phát triển như một trung tâm trong mối liên kết mạng lưới rộng lớn, bao gồm:

- Các trường đại học trong và ngoài nước, đặc biệt là Đại học Quốc gia Tp. Hồ Chí Minh hiện có mối quan hệ tương hỗ với Khu CNC Tp. Hồ Chí Minh;

- Các viện nghiên cứu tại Tp. Hồ Chí Minh và vùng lân cận: các chuyên gia từ các viện/trung tâm nghiên cứu có thể đến làm việc tại Khu theo chế độ cộng tác viên dài hạn hoặc ngắn hạn;

- Các trung tâm ươm tạo CNC tại Tp. Hồ Chí Minh và lân cận;

- Các xí nghiệp công nghiệp nằm bên ngoài Khu, trong khu vực kinh tế trọng điểm phía Nam.

Trong giai đoạn hiện nay (quá trình định hình khu công nghệ cao), cần yếu tố ổn định của mô hình tổ chức và hoạt động. Trong tương lai, Khu Công nghệ cao có gắn kết với Vùng đô thị khoa học-công nghệ Đông Bắc thành phố, do đó có một số định hướng chuyển đổi về mô hình như tăng cường về R&D và Ươm tạo công nghệ cao hơn, tuy vậy các thành phần chức năng của Khu về cơ bản vẫn gồm ba chức năng chính: R&D + Sản xuất + Dịch vụ.
II. QUI HOẠCH CHUNG VỀ KIẾN TRÚC XÂY DỰNG
II. 1. Định hướng không gian - kiến trúc Khu Công nghệ cao


1. Nguyên tắc :

Quá trình hoàn thiện qui hoạch không gian Khu CNC Tp. Hồ Chí Minh tuân thủ các nguyên tắc sau:

- Tạo nên một Khu CNC đa chức năng để đảm bảo chất lượng và yêu cầu cao các đối tác hoạt động trong khu.

- Không gian kiến trúc có tính hấp dẫn nhờ những không gian mang tính đặc trưng.

- Định hướng không gian có tính liên tục nhằm đáp ứng được quy mô, tiến độ, chất lượng đầu tư.

- Qui hoạch sử dụng đất để tiết kiệm tối đa về đầu tư hạ tầng

2. Qui hoạch không gian kiến trúc - cảnh quan


Về mặt tổng thể, không gian kiến trúc - cảnh quan Khu CNC cần được tổ chức một cách thoáng đãng, mật độ xây dựng thấp, nhiều mảng cây xanh và hồ nước, tựa như một Công viên lớn. Trong đó: Khu vực quy hoạch các công ty, xí nghiệp công nghiệp CNC cần bố trí các xí nghiệp theo từng cụm, có cùng đặc tính của ngành sản xuất, nhằm đáp ứng nhu cầu sử dụng đất (thuê, hợp tác đầu tư, trực tiếp khai thác) của các chủ đầu tư khác nhau dựa trên sự phân loại của quá trình phát triển; Khu vực nghiên cứu-phát triển và đào tạo cần bố trí hoà lẫn với thiên nhiên, có khoảng trống cây xanh và một không gian yên tĩnh phù hợp công tác nghiên cứu khoa học.

Quan điểm tổng quát là: Tổ chức một khu hiện đại, không gian trống thoáng, mật độ xây dựng thấp, với nhiều mảng xanh và mặt nước, có hình dáng một khu công viên lớn. Kiến trúc hiện đại kết hợp hài hoà giữa sản xuất, nghiên cứu, đào tạo, ở và nghỉ ngơi.

3. Trục không gian


Trục đường chính dọc D1 (Bắc Nam) và ngang D2 (Đông Tây) xuyên suốt Khu CNC GĐ I và II, với chiều rộng lộ giới 50 m, đường đôi, có dải phân cách trồng cây ở giữa, sẽ tạo thành trục không gian và hành lang kỹ thuật chính của Khu CNC.

Các sông rạch lớn hiện hữu trong Khu CNC, trong GĐ II sẽ được nạo vét, mở rộng để lưu thông đường thủy; tạo hồ nước làm bến ca nô, tạo mặt thoáng. Kết hợp dành hai dải đất rộng hai bên bờ, tạo thành vườn cây liên tục suốt chiều dài sông rạch, giữ lại dáng vẻ thiên nhiên tươi xanh trong lòng Khu CNC. Xung quanh các hồ nước mở rộng thêm diện tích, trồng cây xanh, quy hoạch thành các công viên, tạo môi trường thoáng mát và làm nơi nghỉ ngơi, đi dạo và vui chơi giải trí cho cán bộ và cộng đồng dân cư trong Khu CNC.

4. Các điểm nhấn không gian kiến trúc

Có 4 địa điểm đáng lưu ý, được tổ chức quy hoạch nhấn mạnh về kiến trúc không gian, đó là:

- Điểm thứ nhất: Khu dịch vụ bố trí hai bên rạch Lân, nằm giữa khu đất của GĐ II. Mở rộng lòng sông, kè bờ, đào hồ làm bến thuyền, tổ chức công viên trung tâm tạo không gian cây xanh mặt nước rộng thoáng. Điểm xuyết công trình kiến trúc cao tầng, hiện đại. Đây là điểm tập trung giao lưu, dịch vụ trung tâm của Khu CNC ở GĐ II.

- Điểm thứ hai: Ngã ba hai trục đường chính (dọc và ngang) Khu CNC, giáp ranh của GĐ I và II. Bố trí tổ hợp công trình nghiên cứu-phát triển và Đào tạo có cảnh quan đẹp, hiện đại.

- Điểm thứ ba: Nút giao thông ngã ba, lối vào Khu CNC GĐ II từ đường vành đai Đông.

- Điểm thứ tư: Ngã ba đường trục chính Đông Tây Khu CNC GĐ II với đường vành đai Thành phố phía Tây Khu CNC.

5. Các cổng giao tiếp với bên ngoài

Tổng thể, Khu CNC sẽ điều chỉnh quy hoạch tổng thể, để tổ chức 3 cổng (theo 3 hướng) ra vào chính cho toàn khu gồm:

- Một cổng tiếp xúc với đường Hà Nội (Quốc lộ 52).

- Một cổng tiếp xúc với đường Vành đai ngoài.

- Một cổng tiếp xúc với đường Vành đai trong.

Ngoài ra còn một số lối vào phụ, tổ chức cục bộ cho cả 2 giai đoạn phát triển khi cần thiết.

Các giao tiếp với các khu vực ngoài khu đều theo nguyên tắc đảm bảo tính ”mở”, liên kết vùng, khu vực. Tuy nhiên, qua các cổng đều có kiểm soát, bảo vệ an ninh cho các nhà đầu tư CNC.

6. Kiến trúc cảnh quan

Về cơ bản, mục tiêu đặt ra khi nghiên cứu quy hoạch và thiết kế xây dựng Khu CNC vẫn giữ nguyên như qui hoạch tổng thể trong Báo cáo khả thi GĐ I. Song kết hợp với yêu cầu của các nhà đầu tư và Qui định mới về quản lý kiến trúc qui hoạch theo Nghị định 08/NĐ-CP ngày 24/01/2005 của Chính phủ, qui hoạch kiến trúc sẽ điều chỉnh theo hướng:

- Tăng chiều cao, tầng cao cho các khối kiến trúc (có thể lên tới 18 đến 24 tầng) tại các khu chức năng quản lý điều hành và dịch vụ CNC phù hợp với công năng khai thác.

- Giảm mật độ xây dựng, nhất là ở trục chính - bộ mặt của khu CNC, hay những nơi cần gìn giữ môi trường và cảnh quan thiên nhiên, tạo các điểm nhấn trong không gian kiến trúc cảnh quan toàn khu.

- Hệ thống cây xanh - mặt nước được nghiên cứu điều chỉnh theo hướng phân bố, bố trí cây xanh chủ yếu theo hệ thống kênh rạch được nạo vét để sử dụng; cải tạo đan xen cây xanh để nối liền giữa các khu chức năng; bố trí dọc các tuyến đường giao thông; tại các khoảng lùi của các khu đất do chỉ giới xây dựng được quy định từ 5m đến 20 m (tùy theo lộ giới đường và tính chất khu chức năng) trong quy hoạch xây dựng chi tiết tỉ lệ 1/500. Các khoảng xanh tập trung được dự kiến quy hoạch thành các công viên đặt tại điểm trung tâm các khu vực dọc 2 trục giao thông chính sao cho mọi thành phần hoạt động trong Khu CNC đều được hưởng tiện ích do môi trường cảnh quan xanh mang lại.

Với điều chỉnh này, yêu cầu về kiến trúc sẽ đạt được yêu cầu:

1) Tổ chức được một khu hiện đại, không gian trống thoáng, mật độ xây dựng thấp, với nhiều mảng xanh và mặt nước, một tiểu đô thị đặc biệt tựa như một khu công viên lớn, nhưng lại có nội dung và diện mạo phù hợp với một khu CNC.

2) Kiến trúc và cảnh quan trong Khu CNC phải phản ánh được tính chất hiện đại, có cảnh quan và môi trường của một công viên lớn, kết hợp hài hòa giữa các chức năng sản xuất, nghiên cứu, đào tạo, hoạt động dịch vụ và nghỉ ngơi.

3) Các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật được trình bày trong bảng sau:
II-2. Hoàn chỉnh các phân khu chức năng

Cơ cấu quy hoạch xây dựng chung sau khi đã điều chỉnh bổ sung bao gồm 10 khu chức năng:

(1) Khu sản xuất CNC.

(2) Khu nghiên cứu - phát triển và đào tạo - vườn ươm.

(3) Khu quản lý và dịch vụ CNC

(4) Khu ở chuyên gia

(5) Khu công viên - cây xanh, mặt nước

(6) Giao thông và bãi đậu xe Khu CNC

(7) Khu công trình hạ tầng kỹ thuật đầu mối

(8) Khu công nghiệp hỗ trợ

(9) Khu hậu cần

(10) Khu bảo thuế

Sau đây là thuyết minh qui hoạch các khu chức năng - Khu CNC được bổ sung:

Trung tâm quản lý điều hành đã có trong báo cáo khả thi GĐ I. Tuy nhiên để đáp ứng kịp thời công tác điều hành quản lý hoạt động trong khu và trong khi chờ đợi thiết kế một công trình hiện đại, trước mắt chỉ sử dụng một phần diện tích, phần diện tích lớn còn lại để dành cho tương lai. Mặc khác, trong GĐ II, khi cần thiết sẽ bố trí cơ quan quản lý điều hành bổ sung như xây dựng Tòa nhà Hành Chính phục vụ các đối tượng hoạt động trong khu, tại các cao ốc văn phòng cho thuê của các khu dịch vụ.

1. Khu công nghiệp hỗ trợ sản xuất CNC

- Sản phẩm CNC có cấu trúc khá phức tạp và đòi hỏi sự hỗ trợ của nhiều ngành công nghiệp nhằm đáp ứng tính đa dạng của công nghệ và sản phẩm đầu vào. Các ngành công nghiệp hỗ trợ, không chỉ bao hàm việc sản xuất hàng hóa, mà còn cả những dịch vụ khác nhau như thiết kế, kỹ thuật, tư vấn, sản xuất thử, thử nghiệm, kiểm tra và đánh giá chất lượng sản phẩm, chuyển giao công nghệ.

- Đặc điểm của một số ngành sản xuất CNC là có yêu cầu thường xuyên, tại chỗ và kịp lúc (on time) các chế phẩm, linh kiện bán thành phẩm cho việc hoàn tất các sản phẩm với chất lượng cao và giá thành cạnh tranh. Tuy nhiên, không thể đưa hết tất cả các nhà máy linh kiện, vật liệu, hỗ trợ vào Khu CNC. Chỉ một số dự án công nghiệp hỗ trợ thực sự cần ở trong Khu CNC sẽ được thẩm định kỹ để cấp phép đầu tư với các tiêu chí chung nhất là không gây ô nhiễm, quy mô vừa và nhỏ để phục vụ cho các dự án CNC khác, các dự án công nghiệp hỗ trợ với quy mô lớn đều khuyến khích vào các khu công nghiệp lân cận Khu CNC.

- Trong Khu CNC dành một diện tích khoảng trên 15,25 ha cho công nghiệp hỗ trợ, nhưng theo kinh nghiệm của nhiều quốc gia trên thế giới, diện tích này là quá nhỏ để có một tỷ lệ phù hợp giữa Khu sản xuất CNC với Khu công nghiệp hỗ trợ sản phẩm CNC. Vì thế hoạt động sản xuất sản phẩm CNC trong Khu CNC Tp. Hồ Chí Minh chắc chắn sẽ phải tính đến sự phối hợp của các Khu công nghiệp, khu chế xuất trên địa bàn Thành phố và trong Vùng kinh tế trọng điểm phía nam để chia sẻ địa bàn phân bố các công nghiệp hỗ trợ sản xuất CNC. Và các công nghiệp hỗ trợ sản xuất CNC không cần thiết phải hưởng chính sách đặc biệt như đối với sản xuất CNC.

- Đây cũng là một phương thức làm lan toả công nghiệp cao đến các khu công nghiệp khác và nói chung là đến nền sản xuất công nghiệp và dịch vụ trong nước.

- Về đầu tư xây dựng khu sẽ huy động vốn các loại, xây các nhà xưởng theo yêu cầu, hoặc cho thuê ngắn hạn, các chỉ tiêu kiến trúc tương tự khu sản xuất CNC nhưng chỉ tiêu sử dụng đất, mật độ xây dựng có cao hơn (xem Báo cáo đầu tư xây dựng GĐ II)

2. Khu bảo thuế

- Khu Bảo thuế trong Khu CNC là một trong những mô hình kinh tế mang tính đột phá nhằm tạo một không gian kinh tế thuận lợi cho hoạt động thương mại, dịch vụ các sản phẩm CNC. Đây là khu dạng cửa khẩu quốc tế, Khu kinh tế mở hay Khu ngoại quan với các công trình hạ tầng tốt có hàng rào Hải quan.

- Chức năng quan trọng nhất của Khu Bảo thuế là một “thị trường mở”, nơi diễn ra hoạt động giao dịch buôn bán, xuất nhập khẩu các sản phẩm, thiết bị vật tư, nguyên liệu, hoá chất, các loại gạch, phụ tùng, bán thành phẩm cho sản xuất chế tạo CNC và các loại hàng hóa khác theo nhu cầu của các xí nghiệp, doanh nghiệp trong Khu CNC. Từng bước thực hiện việc mở rộng phục vụ các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực CNC khác bên ngoài Khu sau khi đã đủ điều kiện; Trung tâm dịch vụ của Khu CNC, đặc biệt là các dịch vụ cao cấp về kỹ thuật, tài chính, bảo hiểm: các ngân hàng, tổ chức tín dụng, trong nước và quốc tế, kế toán kiểm toán, tư vấn các loại, logistics, phục vụ cho hoạt động của các xí nghiệp, doanh nghiệp CNC: Tiến tới Khu bảo thuế là một “chợ công nghệ cao” để các công ty hoạt động trong các lĩnh vực CNC trao đổi, giao dịch sản phẩm hàng hoá và dịch vụ, kể cả sản phẩm sở hữu trí tuệ, mua bán giao dịch tại chổ, với thị trường nội địa Việt Nam và với nước ngoài.

- Qui mô đất đai: 56,15 ha.
II-4. Quy hoạch hạ tầng giao thông

Ngày 24/11/2003, UBND Tp. Hồ Chí Minh đã ban hành công văn số: 6817/UB- ĐT ngày 26/12/2003, chấp thuận tách dự án xây dựng đường vành đai phía Đông (đã được phê duyệt đầu tư theo quyết Quyết định số: 1881/QĐ-UB ngày 06/05/2002) thành 2 dự án thành phần theo các lý trình:

- Dự án 1: Đoạn từ đầu tuyến tiếp giáp cầu Phú Mỹ đến hết cầu Rạch Chiếc. Đoạn này sẽ tiếp tục do Khu quản lý giao thông đô thị (trước đây là Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình giao thông công chánh - Sở Giao thông công chánh) làm chủ đầu tư.

- Dự án 2: Đoạn từ cầu Rạch Chiếc đến cuối tuyến tại điểm giao đường Võ Văn Ngân với đường vào Khu CNC; Đoạn này chuyển giao lại cho Ban quản lý Khu CNC làm chủ đầu tư.

Như vậy qui hoạch hạ tầng giao thông Khu CNC sẽ điều chỉnh so với quyết định số 95/2003/QĐ-TTg. Tính chất của tuyến đường D2 trước đây là tuyến giao thông chung của Thành phố nay trở thành trục chính trong nội bộ Khu CNC.

Bằng hệ thống giao thông trục chính được tạo bởi hai trục xương sống D1 và D2, vừa giải quyết lưu thông nội bộ Khu CNC, đồng thời cũng là hệ thống giao thông đối ngoại của khu CNC vì dẫn đến ba cửa ngõ chính ra vào Khu CNC. Trên hai trục đường này dự kiến bố trí hệ thống tuy - nen kỹ thuật phục vụ toàn Khu CNC.

Tóm lại, trong quá trình thực hiện quy hoạch chi tiết GĐ I - Khu CNC và trong quy hoạch chung xây dựng, sẽ có điều chỉnh các nội dung về hạ tầng giao thông là:

(i) Điều chỉnh hướng tuyến một số điểm trên hệ thống đường nhánh nội bộ khu;

(ii) Điều chỉnh thêm hoặc bớt một số đường nhánh cho phù hợp điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất như trình bày ở phần trên.
II- 5 Hòan thiện mô hình quản lý Khu Công nghệ cao Tp. Hồ Chí Minh

Về cơ bản mô hình tổ chức bộ máy quản lý của Ban Quản lý Khu CNC không thay đổi so với mô hình đã được xác định trong Nghị định số 99/2003/NĐ-CP chỉ điều chỉnh bổ sung một số điểm như sau:

a. Lập Công ty cổ phần xây dựng và kinh doanh hạ tầng Khu CNC với cổ đông góp vốn nhà nước trong Công ty cổ phần là Công ty Phát triển Khu CNC. Việc lập Công ty cổ phần này sẽ giải quyết được một số vướng mắc sau đây:

- Huy động các nguồn vốn ngoài ngân sách để đẩy nhanh tốc độ hoàn chỉnh hạ tầng thiết yếu của Khu Công nghệ cao.

- Tránh được các thủ tục trình duyệt, cơ chế xin cho nếu theo phương cách xây dựng với nguồn vốn ngân sách chiếm chủ yếu.

- Tăng cường cam kết về cung cấp dịch vụ chất lượng cao, công tác duy tu bảo dưỡng cơ sở hạ tầng và đầu tư mở rộng kịp thời cho các nhà đầu tư sản xuất, nghiên cứu trong khu công nghệ cao.

- Ban Quản lý Khu Công nghệ cao sẽ chủ động xem xét tổ chức hoạt động, qui mô vốn những yêu cầu cần thiết khác của Công ty Cổ phần để trình các cấp có thẩm quyền phê duyệt.

Đây là mô hình sẽ được triển khai trong GĐ II đầu tư xây dựng Khu CNC. Lưu ý rằng, Công ty Cổ phần này không phải là đơn vị duy nhất (độc quyền) đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng và các công trình khác phục vụ quản lý, nghiên cứu triển khai, đào tạo và sinh hoạt của các đối tượng (tổ chức, cá nhân) hoạt động trong Khu CNC. Tuy nhiên, nếu hạng mục công trình nào – được phê duyệt trong dự án đầu tư xây dựng của Khu CNC mà chưa tìm được đối tác đầu tư thì Công ty cổ phần này chính là đơn vị phải có trách nhiệm “đầu tư” xây dựng.

b. UBND Thành phố sẽ tổ chức lại “Ban quản lý các dự án đầu tư xây dựng Khu CNC” để đảm bảo đúng chức năng “tổ chức xây dựng” trong Khu CNC của Ban quản lý Khu CNC (theo qui định tại điều 36 Nghị định 99/2003/NĐ-CP) và việc triển khai đầu tư xây dựng các dự án cơ sở hạ tầng GĐ I đúng tiến độ. Trong đó, có xem xét việc thuê tư vấn có năng lực - kể cả tư vấn nước ngoài - quản lý một số dự án đòi hỏi kỹ thuật cao như “hạ tầng Viễn thông-Internet”.

Mô hình (điều chỉnh) tổ chức quản lý Khu CNC được thể hiện trong sơ đồ dưới đây:
- Tóm tắt cơ cấu đầu tư xây dựng: Khu vực bố trí kho Ngoại quan, các công trình, trang thiết bị đảm bảo cho hoạt động thương mại CNC với quy chế khu bảo thuế. Các đường xá nội khu, kiến trúc, thiết bị nâng chuyển,... tạo sự thông thoáng nhanh chóng trong chuyển vận, trao đổi hàng hóa phục vụ Khu CNC. Đây là khu dạng cửa khẩu quốc tế với các công trình hạ tầng tốt và hàng rào hải quan ngoài khu. Các kiến trúc chủ yếu là trung tâm giao dịch và các kho chứa, khu lắp ráp, sơ chế bao gói hàng,...

3. Khu hậu cần


Các doanh nghiệp sản xuất CNC thường dựa chủ yếu vào dịch vụ hậu cần (logistic) chất lượng cao để đáp ứng mọi sự thay đổi về cung ứng nhanh chóng nguyên, nhiên liệu và các linh kiện phụ trợ. Dịch vụ cho sản xuất và các hoạt động đa dạng của khu CNC bao gồm cả dịch vụ xuất, nhập theo yêu cầu, chuyển phát nhanh, giao nhận hàng, cung ứng bao gói, trung chuyển Kho ngoại quan... Khu đất bố trí góc tây Nam GĐ II cạnh ngã ba sông đường D2 với đường vành đai Thành phố, diện tích khoảng 11,0 ha. Bao gồm 2 cụm:

- Cụm U1, diện tích 7,5 ha

- Cụm U2, diện tích 3,5 ha

Việc huy động vốn đầu tư khai thác Khu hậu cần sẽ theo phương thức đa dạng với các hình thức BOT, liên doanh,..vì đây là khu kinh doanh có lãi suất cao.

4. Khu công trình đầu mối kỹ thuật hạ tầng và nhà máy điện

Có hai khu: Khu K1 chủ yếu để xử lý nước thải và bãi rác diện tích khu đất 4,0 ha; Khu K2 bố trí nhà máy điện, cấp nguồn điện ổn định riêng cho Khu CNC, diện tích khu K2 khoảng 8,0 ha, vị trí khu ở phía Tây Nam Khu CNC, giáp cổng ra vào đường D2 của Khu. Các công trình hạ tần kỹ thuật khác, bố trí rãi rác phù hợp quy hoạch và tính đặc thù của mỗi loại.

II-3 Điều chỉnh qui mô sử dụng đất

1. Nhu cầu điều chỉnh qui mô sử dụng đất

- Nhu cầu đất dành cho các công ty, tập đoàn đã đăng ký đầu tư vào Khu hiện vượt quá diện tích dành cho sản xuất CNC. Số liệu qua hai năm 2004, 2005 thực hiện đã chỉ rõ nhu cầu đất đăng ký của các nhà đầu tư CNC đã vượt quá diện tích đã quy hoạch dảnh cho GĐ I.

- Do điều chỉnh chức năng khu CNC, nên đã bổ sung các phân khu chức năng mới như: bảo thuế, hậu cần, khu vườn ươm, nhà máy điện,..nên đảm bảo diện tích theo cơ cấu tỷ lệ cân đối cho sử dụng, đáp ứng công năng từng khu, tổng cộng phát sinh nhu cầu bổ sung thêm trên 100 ha.

- Về lâu dài cần dự kiến phát triển các "khu công nghiệp CNC” để bổ sung cho Khu CNC Tp. Hồ Chí Minh.

- Điều chỉnh do xử lý ranh giới khu CNC, tăng giảm các khu vực liên quan đến địa phương xung quanh khu:

+ Từ năm 2000, UBND Thành phố đã có chỉ đạo: “Việc cắm mốc chỉ giới bổ sung 500 ha đất còn lại để lập quy hoạch tổng thể khu CNC với quy mô 800 ha được lấy theo ranh giới tự nhiên theo quy hoạch ở bước nghiên cứu tiền khả thi trước đây. Diện tích đất trên có thể tăng giảm theo đo đạc cắm mốc thực tế.”

+ Thực hiện chỉ đạo trên, Đoàn Đo đạc bản đồ Thành phố đã đo lại tổng diện tích đất dành cho Khu CNC theo Báo cáo Tiền Khả thi được phê duyệt, chính xác là 913,1633 ha.

2. Nội dung điều chỉnh

Quyết định 2193/QĐ-UB ngày 19/05/2004 chấp thuận bổ sung quỹ đất sử dụng cho Khu CNC Tp. Hồ Chí Minh. Theo đó, “thu hồi 1.022.275 m2 đất tại phường Tăng Nhơn Phú A và phường Tăng Nhơn Phú B, Quận 9 thuộc quy hoạch Khu CNC Thành phố mở rộng và giao cho Ban quản lý Khu CNC Tp. Hồ Chí Minh”; đồng thời "xác định tổng diện tích đất đã thu hồi và giao cho Ban quản lý Khu CNC tại các Quyết định số 2666/QĐ-UB ngày 27/06/2002, Quyết định số 2717/QĐ- UB ngày 18/07/2003 và tại Quyết định này là 9.131.633 m2”.


Số lượt người xem: 4870Bản in Quay lại
Xem theo ngày: